Một cơ sở lọc dầu ở In Amenas, Algeria. Ảnh: AFP/TTXVN
Trên các mặt báo khu vực, câu chuyện tên lửa và không kích được dịch sang ngôn ngữ rất đời thường: giá xăng, chi phí sinh hoạt và nguy cơ đứt gãy nguồn cung.
Xung đột leo thang với các đòn không kích của Mỹ và Israel vào hạ tầng quân sự, năng lượng của Iran, cùng những đợt đáp trả bằng tên lửa, thiết bị bay không người lái, đã làm chao đảo thị trường dầu mỏ toàn cầu. Eo biển Hormuz – tuyến huyết mạch của dầu mỏ vùng Vịnh – trở thành điểm nghẽn chiến lược: chỉ cần rủi ro an ninh tăng, hãng tàu và nhà buôn dầu đã phải cân nhắc né tuyến, đẩy phí bảo hiểm lên cao và thổi giá dầu trở lại vùng căng thẳng. Trong bối cảnh nhiều nền kinh tế mới nổi vẫn chưa thoát hẳn quỹ đạo lạm phát cao những năm gần đây, một cú nhảy mới của giá dầu gần như chắc chắn sẽ lan sang mặt bằng giá cả.
Đối với châu Phi, đây không phải biến động xa xôi. Phần lớn các nước trên lục địa là nhập khẩu ròng nhiên liệu, phụ thuộc vào dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), phân bón và nhiều mặt hàng thiết yếu từ Trung Đông. Khi giá dầu tăng, chi phí vận chuyển và bảo hiểm tàu biển đội lên, hóa đơn nhập khẩu phình to, lập tức phản ánh vào giá xăng dầu bán lẻ, giá điện, chi phí vận tải và giá lương thực – hàng tiêu dùng.
Nigeria là ví dụ điển hình cho thế “hai lưỡi”. Trên lý thuyết, giá dầu tăng tạo dư địa cải thiện thu ngân sách và nguồn ngoại tệ của một nhà xuất khẩu lớn. Nhưng vì thiếu công suất lọc - hóa dầu nội địa, Nigeria vẫn phải nhập phần lớn xăng dầu thành phẩm. Mỗi lần giá thế giới nhích lên, giá trong nước bị kéo theo; người dân đối mặt với xăng, cước vận tải và giá hàng hóa leo thang, trong khi lợi ích từ “cú hích dầu thô” chủ yếu đi qua bảng cân đối của nhà nước và tập đoàn năng lượng. Tranh luận trong nội bộ nước này xoay quanh câu hỏi: lợi ích vĩ mô có đủ bù đắp cái giá mà người dân phải trả ở mức vi mô hay không.
Ở Bắc, Đông và Nam châu Phi, sức ép cũng không kém. Các tuyến vận chuyển dầu, khí hóa lỏng, phân bón và hàng hóa từ vùng Vịnh qua Biển Đỏ và kênh Suez là huyết mạch tiếp tế của Ai Cập, Ethiopia, Kenya hay Nam Phi. Khi rủi ro gia tăng, một phần tàu hàng buộc phải vòng qua Mũi Hảo Vọng, kéo dài hành trình, đốt nhiều nhiên liệu hơn và chịu thêm phụ phí rủi ro xung đột. Những chi phí này cuối cùng đều được “gộp” vào giá bán, khiến nỗ lực kiểm soát lạm phát của các chính phủ càng thêm mong manh.
Khó khăn nằm ở chỗ dư địa tài khóa của nhiều nước châu Phi đã bị bào mòn sau đại dịch COVID-19, khủng hoảng lương thực và vòng xoáy lạm phát kéo dài. Họ phải chọn giữa việc để giá nhiên liệu thả nổi, chấp nhận áp lực lên đời sống người dân, hoặc tái áp dụng trợ giá, chấp nhận rủi ro nợ công. Bất kỳ kịch bản nào cũng tiềm ẩn nguy cơ bất ổn xã hội nếu thu nhập thực không theo kịp chi phí sinh hoạt.
Trung Kiên (TTXVN)