Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
6 giờ trướcBài gốc
Nhân viên Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai phát tờ rơi tuyên truyền cho người dân xã Tân Quan. Ảnh: Đoàn Phú
Bồi thường thiệt hại ngoài HĐ là trách nhiệm dân sự do hành vi gây ra thiệt hại phát sinh giữa các chủ thể mà không phụ thuộc vào HĐ. Bên có hành vi trái pháp luật dẫn đến gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên bị thiệt hại.
Căn cứ xác định thiệt hại
Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự năm 2015, luật khác có liên quan quy định khác (khoản 1). Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác (khoản 2). Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2, Điều 584, Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 3).
Tuy vậy, Điều 584, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định loại trừ trường hợp người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác được miễn trừ trách nhiệm bồi thường khi gặp sự kiện bất khả kháng, do các bên có thỏa thuận, hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Theo đó, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Lỗi hoàn toàn do người bị thiệt hại là toàn bộ thiệt hại xảy ra đều do lỗi của người bị thiệt hại, người gây thiệt hại không có lỗi.
Luật sư Nguyễn Đức, Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai hướng dẫn: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 584 của Bộ luật Dân sự năm 2015 phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau: Có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác. Có thiệt hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất tinh thần do bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích nhân thân khác mà chủ thể bị xâm phạm hoặc người thân thích của họ phải chịu và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất đó. Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm; thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại, hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Nguyên tắc bồi thường
Ông Hoàng Văn Quân (ở xã Bù Gia Mập), ông Đào Văn Khánh (ở xã Tân Quan), bà Lý Thị Ngọc (ở xã Nam Cát Tiên) hỏi: Khi người bị thiệt hại đã xác định được căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài HĐ thì dựa vào nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài HĐ như thế nào để yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường?
Luật sư Nguyễn Đức giải đáp: Tại Điều 585, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài HĐ như sau: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
Ðiều 587, Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định, với trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài HÐ do nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người gây thiệt hại phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Cũng theo luật sư Nguyễn Đức, để áp dụng nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài HĐ thống nhất, chính xác, đúng quy định, tránh tùy tiện trong cách hiểu, áp dụng… tại Điều 3, Nghị quyết số 02/2022/NĐ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 6-9-2022, hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài HĐ có hướng dẫn, thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ là tất cả thiệt hại thực tế xảy ra đều phải được bồi thường. Thiệt hại phải được bồi thường kịp thời là thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại….
Bên cạnh đó, tại Điều 3 Nghị quyết số 02 cũng có hướng dẫn cụ thể như sau: Thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường là trường hợp có căn cứ chứng minh rằng nếu tòa án tuyên buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại thì không có điều kiện thi hành án. Mức bồi thường thiệt hại không còn phù hợp với thực tế, có nghĩa là do có sự thay đổi về tình hình kinh tế - xã hội; sự biến động về giá cả; sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại; sự thay đổi về khả năng kinh tế của người có trách nhiệm bồi thường mà mức bồi thường không còn phù hợp với sự thay đổi đó. Bên bị thiệt hại có một phần lỗi đối với thiệt hại xảy ra thì không được bồi thường thiệt hại tương ứng với phần lỗi đó…
Ðoàn Phú
Nguồn Đồng Nai : https://baodongnai.com.vn/ban-doc/202605/yeu-cau-boi-thuong-thiet-hai-ngoai-hop-dong-3d36d76/