Bảo đảm an ninh nguồn nước, trụ cột chiến lược trong phát triển bền vững quốc gia

Bảo đảm an ninh nguồn nước, trụ cột chiến lược trong phát triển bền vững quốc gia
40 phút trướcBài gốc
Những kết quả nổi bật tạo nền tảng thực tiễn vững chắc
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, xung đột địa chính trị kéo dài, kinh tế thế giới phục hồi chậm và thiếu bền vững, vấn đề an ninh nguồn nước đang nổi lên như một thách thức toàn cầu mang tính sống còn. Đối với Việt Nam, quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc nhưng phụ thuộc lớn vào nguồn nước xuyên biên giới, bảo đảm an ninh nguồn nước không chỉ là yêu cầu phát triển bền vững mà còn là một cấu phần quan trọng của an ninh quốc gia.
Ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường)
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy phát triển khi lần đầu tiên đặt an ninh nguồn nước vào vị trí trung tâm của chiến lược bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo đảm an sinh xã hội. Những kết quả thực tiễn đạt được trong giai đoạn vừa qua là minh chứng sinh động cho tính đúng đắn của định hướng này, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới về thể chế, tổ chức và nguồn lực trong thời gian tới.
Theo ông Nguyễn Tùng Phong, Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), về lĩnh vực nước sạch, đến năm 2025, Bộ Nông nghiệp và môi trường đã đầu tư xây mới và nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung, các hồ trữ nước phục vụ sinh hoạt cho những khu vực khan hiếm nước, chịu ảnh hưởng lớn của xâm nhập mặn, cụ thể đã đầu tư 81 công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung tại 5 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, đảm bảo cấp nước sạch đạt quy chuẩn cho khoảng 132.000 hộ dân sinh sống tại những khu vực ven biển, chịu ảnh hưởng thường xuyên xâm nhập mặn, xây mới 25 hồ trữ nước và nâng cấp, mở rộng 1 công trình cấp nước tập trung cho các địa bàn thuộc các tỉnh Lai Châu, Tuyên Quang và Cao Bằng, cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 4.100 hộ dân và 1.800 học sinh ở các vùng đặc biệt khó khăn về nguồn nước.
Trong công tác bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước - một trụ cột quan trọng của an ninh nguồn nước - Cả nước hiện có khoảng 7.315 đập, hồ chứa thủy lợi đang khai thác, gồm có: 592 đập dâng có chiều cao đập trên 5m và 6.723 hồ chứa thủy lợi (04 hồ quan trọng đặc biệt, 895 hồ lớn, 1.540 hồ vừa và 4.284 hồ nhỏ). Trong đó, có 213 hồ chứa có cửa van điều tiết, 323 hồ có dung tích trên 3 triệu m3 (20 hồ dung tích trên 100 triệu m3, 15 hồ dung tích từ 50-100 triệu m3, 93 hồ dung tích từ 10- 50 triệu m3). Tất cả các hồ chứa thủy lợi đều được thiết kế đa mục tiêu, với ba nhiệm vụ chính là: Đảm bảo an toàn công trình; cắt giảm lũ cho hạ du; tích trữ nước phục vụ sản xuất, dân sinh và các ngành kinh tế.
Năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 3 hồ chứa nước lớn (Cánh Tạng, Bản Mồng, Sông Chò 1) với tổng dung tích 445 triệu m3. Cùng một số hồ chứa được hoàn thành trước đó như Bản Lải (Lạng Sơn), Đồng Mít (Bình Định), Hồ Cao Ngỗi (Tuyên Quang)… nâng tổng dung tích trữ của các hồ chứa thủy lợi trên cả nước lên 15,7 tỷ m3. Các hồ chứa đã tạo nguồn nước tưới cho gần 1,1 triệu ha đất canh tác nông nghiệp, cấp 1,5 tỷ m³ nước cho sinh hoạt, công nghiệp, phát điện.
Hệ thống đập, hồ chứa nước cũng góp phần quan trọng trong cắt giảm lũ cho vùng hạ du. Điển hình như giai đoạn 2024–2025 với hiện tượng bão lũ cực đoan xảy ra liên tiếp, cường độ mạnh và diễn ra trên diện rộng. Việc vận hành, điều tiết 213 hồ chứa có cửa van đã phát huy vai trò cắt giảm lũ cho hạ du. Trong các đợt mưa lũ năm 2025, Hồ Cửa Đạt: Tổng 3 trận lũ lớn trong năm, hồ đã cắt giảm được 1,28/2,02 tỷ m3 nước về hồ và cắt đỉnh lũ để giảm ngập cho hạ du; Hồ Tả Trạch: Tổng có 6 đợt lũ lớn trong năm hồ đã cắt giảm được 560/1207 triệu m3 nước, đặc biệt đợt lũ từ ngày 26/10-30/10 hồ đã cắt được 3.371m3/s/ tổng lưu lượng lũ đến 6.921m3/s, góp phần quan trọng bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
“Những con số đó cho thấy, an ninh nguồn nước không còn là khẩu hiệu mà đã được hiện thực hóa bằng các công trình, dự án cụ thể, trực tiếp phục vụ dân sinh và phát triển kinh tế – xã hội”, ông Nguyễn Tùng Phong chia sẻ.
Điểm sáng về thể chế và quản trị – nền móng cho giai đoạn mới
Một trong những kết quả nổi bật được Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV phản ánh rõ là đột phá về thể chế và tổ chức bộ máy. Việc Quốc hội thông qua Luật Tài nguyên nước năm 2023, Luật sửa đổi, bổ sung 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, cùng hàng loạt nghị định quan trọng về phân quyền, phân cấp đã tạo hành lang pháp lý tương đối đồng bộ cho quản lý tài nguyên nước.
An ninh nguồn nước đang nổi lên như một trụ cột của an ninh quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu và bất ổn toàn cầu gia tăng. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện bước chuyển quan trọng về tư duy chiến lược, đòi hỏi những đột phá mạnh mẽ hơn về thể chế, quản lý và tổ chức thực thi.
Đặc biệt, việc hợp nhất Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường từ ngày 1/3/2025 được xem là bước đột phá mang tính lịch sử, khắc phục căn bản tình trạng chồng chéo, phân mảnh trong quản lý nguồn nước kéo dài nhiều năm. Cùng với đó, việc thành lập 4 Ủy ban lưu vực sông khu vực đã thể hiện rõ tư duy chuyển đổi từ quản lý theo địa giới hành chính sang quản lý tổng hợp theo lưu vực – phù hợp với thông lệ quốc tế và yêu cầu thực tiễn.
Kết quả trong lĩnh vực cấp nước sạch cũng rất đáng ghi nhận: 95% hộ gia đình đô thị và 68% hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước đạt quy chuẩn, vượt mục tiêu đề ra cho năm 2025. Đây là minh chứng rõ nét cho việc đưa an ninh nguồn nước gắn với an sinh xã hội – một nội dung xuyên suốt trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV.
Một trong những kết quả nổi bật là công tác hoàn thiện thể chế, chính sách. Quốc hội đã thông qua Luật Tài nguyên nước năm 2023, Luật sửa đổi, bổ sung 15 luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, cùng nhiều nghị định quan trọng về quản lý tài sản hạ tầng nước và phân quyền, phân cấp. Công tác quy hoạch đạt kết quả toàn diện khi hoàn thành 100% các quy hoạch ngành quốc gia liên quan.
“Đặc biệt, việc hợp nhất Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường từ 1/3/2025 được xem là bước đột phá lớn, tạo sự thống nhất trong quản lý nguồn nước từ điều tra, quy hoạch đến khai thác, sử dụng và bảo vệ, khắc phục tình trạng chồng chéo kéo dài nhiều năm”, ông Nguyễn Tùng Phong nhấn mạnh.
Từ tư duy chiến lược đến yêu cầu đột phá trong thực thi
Theo ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), các nhiệm vụ đột phá trong thời gian tới là hiện đại hóa, chuyên nghiệp hóa quản lý tài nguyên nước trên nền tảng công nghệ số, chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang công cụ kinh tế. Việc xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, định giá và hạch toán tài nguyên nước, áp dụng nguyên tắc “người hưởng lợi phải trả tiền”, “người gây ô nhiễm phải trả chi phí khắc phục” sẽ là nền tảng cho quản trị bền vững.
Ông Nguyễn Minh Khuyến – Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước
Ở góc độ chuyên gia, Giáo sư Đào Xuân Học – Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam đánh giá: "Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ khi đặt an ninh nguồn nước là trụ cột của an ninh quốc gia. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, để biến quyết tâm chính trị thành hiện thực, cần thống nhất đầu mối quản lý, hoàn thiện khung pháp luật theo hướng quản lý tổng hợp lưu vực sông, tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ và nâng cao năng lực thực thi ở địa phương".
Theo Giáo sư Đào Xuân Học, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã thể hiện rõ tư duy mới khi xác định nước là tài sản quốc gia, là trụ cột của an ninh quốc gia và phát triển bền vững; quản lý tài nguyên nước phải chuyển từ phân tán sang tích hợp, từ bị động sang chủ động, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên khoa học – công nghệ và công cụ kinh tế.
Tuy nhiên, như nhiều chuyên gia, trong đó có Giáo sư Đào Xuân Học – Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam nhận định, thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức mà ở khâu tổ chức thực thi. Thực trạng phân mảnh trong quản lý tài nguyên nước tuy đã được cải thiện nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái chồng chéo nếu không xác định rõ “một đầu mối, một trách nhiệm”. Việc cụ thể hóa các mục tiêu lớn của Dự thảo thành chỉ tiêu định lượng, lộ trình rõ ràng, gắn với nguồn lực và cơ chế giám sát vẫn là yêu cầu cấp thiết.
Từ thực tiễn đó, nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo Văn kiện cần nhấn mạnh hơn nữa yêu cầu: "Cụ thể hóa mục tiêu an ninh nguồn nước bằng các chỉ tiêu đo lường được; Thiết lập cơ chế tài chính bền vững cho hạ tầng nước; Minh bạch hóa dữ liệu, tăng cường trách nhiệm giải trình; Nâng cao năng lực thực thi ở cấp địa phương; Gắn chặt phát triển kinh tế với bảo vệ, phục hồi tài nguyên nước".
Có thể khẳng định, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã mở ra một khung tư duy chiến lược đúng đắn và tiến bộ về an ninh nguồn nước. Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021–2025 là nền tảng quan trọng để bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng, hiệu quả và bền vững.
Vấn đề đặt ra hiện nay không phải là “có làm hay không”, mà là làm như thế nào cho đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả. Việc giữ vững tinh thần đổi mới của Dự thảo, đồng thời thiết kế lộ trình thực thi rõ ràng, phân công “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, sẽ quyết định thành công của mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Bảo vệ nguồn nước không chỉ là nhiệm vụ của một ngành hay một giai đoạn, mà là sứ mệnh lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đúng như tinh thần mà Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đã và đang hướng tới.
Văn Ngân/VOV.VN
Nguồn VOV : https://vov.vn/xa-hoi/bao-dam-an-ninh-nguon-nuoc-tru-cot-chien-luoc-trong-phat-trien-ben-vung-quoc-gia-post1261331.vov