Thời gian qua thành phố đã dành nhiều nguồn lực hỗ trợ xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: T.CÔNG
Vẫn còn nhiều trở lực
Sau hợp nhất, thành phố Đà Nẵng có 37 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó có 28 xã khu vực III đặc biệt khó khăn với khoảng 164.095 người dân tộc thiểu số sinh sống. Đây là khu vực còn nhiều chênh lệch về hạ tầng, sinh kế và điều kiện tiếp cận dịch vụ công.
Theo ông Đặng Tấn Phương, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo, tình hình đời sống và sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản được ổn định, từng bước cải thiện. Chính quyền thành phố đang tiếp tục tập trung nguồn lực để phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Giai đoạn 2021 - 2025, thành phố đã hỗ trợ nhà ở cho 873 hộ dân thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với tổng kinh phí hơn 38,4 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhiều địa phương miền núi vẫn đối mặt nguy cơ sạt lở cao, gây khó khăn cho việc ổn định dân cư lâu dài.
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Khâm Đức Đoàn Văn Thông cho rằng, cần phân loại cụ thể điều kiện từng vùng để xây dựng chính sách phù hợp, bởi miền núi không thể áp dụng một cách làm chung. Một số xã miền núi có địa hình dốc, thường xuyên sạt lở, quỹ đất sản xuất hạn chế, nên khó khăn lớn hơn nhiều so với các vùng có thung lũng hoặc địa hình bằng phẳng.
Đáng lo ngại hơn, tại nhiều xã vùng cao, sau mưa lớn sạt lở đất, không thể làm nơi ở lẫn nơi sản xuất. Trong khi đó, người dân cũng không thể mở rộng sản xuất vào rừng tự nhiên vì vướng quy định bảo vệ rừng.
Miền núi vẫn cần thêm những chính sách đặc thù để ổn định an sinh, thu hẹp khoảng cách với các khu vực còn lại. Ảnh: T.CÔNG
Theo ông Đoàn Văn Thông, quỹ đất ít đi, người dân cũng bị thu hẹp tư liệu sản xuất. Vì vậy, cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ ổn định lâu dài hơn cho người giữ rừng, kết hợp phát triển sinh kế dưới tán rừng như dược liệu, ba kích, đẳng sâm…
Đối với công tác xóa nhà tạm, cần ưu tiên sắp xếp, bố trí dân cư an toàn trước rồi mới đầu tư làm nhà. Bởi thực tế thời gian qua, có tình trạng nhà vừa xây xong lại phải di dời do sạt lở, gây chồng chéo và lãng phí nguồn lực. Nếu chưa xác định được nơi ở ổn định, an toàn thì rất khó cho câu chuyện an cư bền vững.
Cần thêm chính sách đặc thù
Trao đổi về chính sách cho miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Bến Hiên Đinh Văn Hươm cho rằng, chính sách hiện nay vẫn chưa thật sự bao quát hết nhu cầu thực tế của đồng bào dân tộc thiểu số. “Cần nghiên cứu lại cách xây dựng chính sách theo hướng bảo đảm quyền thụ hưởng chung cho người dân tộc thiểu số, thay vì chủ yếu gắn với tiêu chí hộ nghèo. Thực tế tại nhiều địa phương xuất hiện tâm lý so bì khi nhiều hộ dân tộc thiểu số không thuộc diện nghèo nhưng đời sống vẫn rất khó khăn”, ông Hươm nói.
Theo ông Hươm, hiện nay nhiều chính sách vẫn thiên về hỗ trợ hộ nghèo, trong khi các chính sách đặc thù dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhiều. Sau hợp nhất, việc rà soát và tích hợp chính sách vẫn còn chậm. Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là đất ở và đất sản xuất.
Cần chuyển mạnh từ hỗ trợ an sinh sang hỗ trợ sinh kế bền vững, xây dựng các mô hình sản xuất đủ lớn để tạo sản phẩm hàng hóa cho thị trường. Đặc biệt, tại các địa phương có thủy điện, cần nghiên cứu cơ chế trích một phần nguồn thu để tái đầu tư cho sinh kế người dân vùng dự án.
Các cơ chế hỗ trợ cần đồng bộ, tạo cú hích để người dân ổn định nơi ở, nơi sản xuất. Ảnh: T.CÔNG
Liên quan đến chính sách phát triển cho miền núi, phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc của Ban Dân tộc HĐND thành phố với Sở Dân tộc và Tôn giáo mới đây, Phó Chủ tịch HĐND thành phố Đoàn Ngọc Hùng Anh nhìn nhận, sau hợp nhất, quy mô miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số của Đà Nẵng rất lớn, đòi hỏi phải thay đổi tư duy quản lý và xây dựng chính sách. Thành phố sẽ đẩy nhanh việc rà soát, sửa đổi và tích hợp các cơ chế chính sách liên quan miền núi. Trong đó, không chỉ rà soát các nghị quyết riêng cho miền núi, mà còn xem xét các chính sách ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: giáo dục, đất đai, đầu tư công, y tế và giảm nghèo.
Theo đó, sẽ chuyển dần từ tư duy hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ sinh kế bền vững, tìm được mô hình hiệu quả, tạo đầu ra ổn định cho người dân. Bên cạnh đó, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành bởi các vấn đề miền núi hiện nay liên quan đồng thời đến giáo dục, đất đai, đầu tư, văn hóa và quốc phòng - an ninh.
Thành phố nghiên cứu thêm các chính sách đặc thù cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là đối với người có uy tín, đào tạo cán bộ người dân tộc tại chỗ, giáo viên, nhân viên y tế vùng cao và các chính sách bảo đảm an cư lâu dài. Miền núi không thể chỉ tiếp cận bằng tư duy hỗ trợ ngắn hạn, mà phải tạo được nền tảng ổn định lâu dài về dân cư, sinh kế và nguồn nhân lực thì mới thu hẹp được khoảng cách phát triển giữa các vùng.
THÀNH CÔNG