Châu Á ứng phó khủng hoảng năng lượng giữa xung đột Trung Đông

Châu Á ứng phó khủng hoảng năng lượng giữa xung đột Trung Đông
5 giờ trướcBài gốc
Công nhân làm việc tại nhà máy sản xuất dầu ở tỉnh Wasit, Iraq. Ảnh: THX/TTXVN
Cuộc chiến do Mỹ và Israel phát động nhằm vào Iran đang gây ra những chấn động kinh tế sâu rộng trên toàn cầu, trong đó châu Á chịu tác động trực tiếp và nặng nề nhất. Kể từ ngày 28/2, khi Iran phong tỏa eo biển Hormuz - hành lang năng lượng quan trọng bậc nhất thế giới, hàng loạt chính phủ ở châu Á từ Thái Lan đến Ấn Độ đã phải triển khai các biện pháp khẩn cấp. Theo tạp chí TIME mới đây, các nước trong khu vực đang đối mặt với nguy cơ lạm phát leo thang, thiếu hụt nhiên liệu và đứt gãy chuỗi cung ứng ở quy mô chưa từng có trong nhiều thập kỷ gần đây.
Nguy cơ tiếp nối nguy cơ
Tính dễ tổn thương của châu Á trước cuộc khủng hoảng lần này xuất phát từ sự phụ thuộc nguồn năng lượng Trung Đông. Khoảng 80% lượng dầu nhập khẩu của châu Á vận chuyển qua eo biển Hormuz, nay đã bị phong tỏa. Trong số các quốc gia, Pakistan và Indonesia duy trì dự trữ đủ dùng khoảng 20 ngày; trong khi Ấn Độ, Thái Lan và Philippines chỉ đảm bảo được khoảng hai tháng.
Theo nhà kinh tế học Alloysius Joko Purwanto thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế ASEAN và Đông Á, các nước như Philippines, Thái Lan, Malaysia và Brunei phụ thuộc vào nhập khẩu từ 60% đến 95% nguồn cung dầu thô. Khoảng 80% lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) xuất khẩu của Qatar cũng được vận chuyển đến châu Á qua tuyến đường này, khiến toàn bộ hệ thống năng lượng khu vực rơi vào tình trạng báo động.
Hàng xuất khẩu của châu Á cũng đang bị mắc kẹt do không thể đi qua eo biển Hormuz. Xuất khẩu gạo của Thái Lan sang Trung Đông gần như đình trệ hoàn toàn. Hai tàu chở khoảng 80.000 tấn gạo đến Iraq đã bị chặn tại cảng Bangkok. Xuất khẩu nông sản Ấn Độ, gồm chuối, gạo và nhiều mặt hàng khác sang các nước vùng Vịnh, cũng bị cắt giảm mạnh. Theo chuyên gia kinh tế Heron Lim thuộc Trường Kinh doanh ESSEC, cuộc xung đột đang tạo ra gián đoạn nguồn cung, chi phí bảo hiểm tăng cao và rủi ro ngày càng lan rộng khắp chuỗi cung ứng toàn cầu.
Gián đoạn năng lượng kéo theo nguy cơ lạm phát lan rộng, ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống từ thực phẩm, vận tải đến điện sinh hoạt. Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), gián đoạn các tuyến vận tải biển hoặc hành lang hàng không có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, xuất khẩu và hoạt động đi lại.
Riêng Thái Lan, các nhà kinh tế cảnh báo rằng, nếu xung đột kéo dài hơn 3 tháng, tăng trưởng kinh tế nước này có thể giảm tới một nửa. Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. cho rằng khu vực này đang trở thành “nạn nhân của một cuộc chiến mà chúng ta không lựa chọn và cũng không mong muốn”.
Đặc biệt đáng lo ngại là lĩnh vực nông nghiệp. Châu Á phụ thuộc rất lớn vào Trung Đông về nguồn phân bón, bởi vùng Vịnh Ba Tư là trung tâm sản xuất phân bón toàn cầu. Theo các nhà kinh tế tại Hiệp hội Nông trại Mỹ, gián đoạn nguồn cung phân bón từ Trung Đông có thể khiến các nhà nhập khẩu lớn như Ấn Độ và Brazil phải tìm kiếm nguồn thay thế, từ đó đẩy giá toàn cầu tăng cao. Trong khi đó, các nhà sản xuất lớn như Trung Quốc có thể hạn chế xuất khẩu để bảo vệ nguồn cung trong nước, làm trầm trọng thêm tình trạng khan hiếm.
Các biện pháp ứng phó
Sana Khan, nhà phân tích và nghiên cứu chính trị nói với tạp chí Modern Diplomacy rằng, giá dầu tăng vọt do cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran đã buộc các chính phủ ở châu Á phải thực hiện các biện pháp khẩn cấp. Nhật Bản cam kết giải phóng lượng dầu kỷ lục 80 triệu thùng từ kho dự trữ quốc gia, tương đương nguồn cung khoảng 45 ngày; đồng thời yêu cầu Australia tăng sản lượng LNG để bù đắp thiếu hụt. Hàn Quốc lựa chọn hướng tái cơ cấu năng lượng dài hạn: Nâng tỷ lệ sử dụng nhà máy điện hạt nhân lên khoảng 80%, tạm thời dỡ bỏ giới hạn sản lượng điện than. Đồng thời áp đặt trần giá nhiên liệu nội địa, biện pháp đầu tiên trong gần 3 thập kỷ và xem xét cấp phiếu mua năng lượng để hỗ trợ các hộ gia đình dễ bị tổn thương.
Không giống các nước láng giềng, Trung Quốc bước vào khủng hoảng với tư thế chủ động hơn nhờ chuẩn bị từ trước. Nước này sử dụng kho dự trữ chiến lược 1,4 tỷ thùng dầu thô tích lũy trước khi xung đột nổ ra. Đồng thời, nước này duy trì nhập khẩu khí đốt qua đường ống từ Nga và tiếp tục nhận dầu từ Iran. Để bảo vệ nguồn cung trong nước, Bắc Kinh áp đặt lệnh cấm tạm thời xuất khẩu các loại nhiên liệu tinh chế, bao gồm xăng, dầu diesel và nhiên liệu máy bay. Ngoài ra, sự chuyển đổi sang xe điện đang diễn ra mạnh mẽ cũng góp phần giảm bớt sự phụ thuộc của Trung Quốc vào dầu nhập khẩu.
Các nền kinh tế đang phát triển lớn của châu Á lại triển khai các biện pháp ứng phó theo khả năng tài chính và đặc thù của từng nước. Ấn Độ viện dẫn quyền khẩn cấp để chuyển hướng nguồn cung khí dầu mỏ hóa lỏng từ khu vực công nghiệp sang hộ gia đình, đồng thời đàm phán để một số ít tàu được phép đi qua vùng phong tỏa. Indonesia lên kế hoạch tăng trợ cấp nhiên liệu. Song song đó, đẩy nhanh chương trình nhiên liệu sinh học B50, pha trộn 50% nhiên liệu sinh học từ dầu cọ với dầu diesel, nhằm giảm dần phụ thuộc nhập khẩu về lâu dài. Thái Lan áp giá trần dầu diesel tạm thời, yêu cầu cơ quan nhà nước làm việc tại nhà và nghiên cứu khả năng mua dầu từ Nga.
Những quốc gia có nền kinh tế yếu hơn và phụ thuộc nhập khẩu cao đang thực hiện các biện pháp khẩn cấp mang tính hành chính. Bangladesh nhập khẩu khoảng 95% nhu cầu năng lượng, đã đóng cửa các trường đại học, điều quân đội bảo vệ kho dầu chống tích trữ và chuyển sang nhập khẩu dầu diesel từ Trung Quốc, Ấn Độ. Sri Lanka thực hiện phân phối nhiên liệu theo định mức chặt chẽ: Xe máy tối đa 5 lít/tuần, ô tô 15 lít và xe buýt 60 lít. Nepal tăng mạnh giá xăng dầu, trong khi Philippines áp dụng tuần làm việc 4 ngày cho một số quan chức chính phủ và tích cực đàm phán với Indonesia, Nga nhằm đảm bảo hợp đồng cung cấp nhiên liệu.
Những dự đoán cho tương lai
Báo cáo ADB cảnh báo rằng, nếu gián đoạn tại eo biển Hormuz kéo dài, hậu quả có thể rất nghiêm trọng: Giá dầu tăng vọt, thương mại toàn cầu suy yếu và tăng trưởng kinh tế chậm lại. Theo chuyên gia Heron Lim, cuộc xung đột đe dọa gây ra một làn sóng áp lực tăng giá sinh hoạt mới mà các chính phủ và ngân hàng trung ương trên toàn thế giới sẽ khó đối phó, đặc biệt là từ phía cung.
Tiến sĩ Steinbock nhấn mạnh thêm, tác động tổng hợp của xung đột Trung Đông cùng với khung thuế quan toàn cầu 10 - 15% có thể hình thành một “cú sốc kép” địa chính trị và thương mại, tạo ra áp lực lạm phát và tình trạng tăng trưởng trì trệ đồng thời từ hai hướng. Với các nền kinh tế mới nổi châu Á, chiếm khoảng 60% tăng trưởng toàn cầu, bất kỳ sự suy yếu nào của khu vực đều sẽ kéo theo hậu quả cho cả thế giới.
Trong ngắn hạn, những bên có thể hưởng lợi từ khủng hoảng là các quốc gia xuất khẩu năng lượng không bị ảnh hưởng bởi điểm nghẽn eo biển Hormuz, gồm Nga, Mỹ, Australia, Turkmenistan và Kazakhstan, những nước có thể vận chuyển qua đường ống hoặc tuyến biển thay thế. Tuy nhiên, Tiến sĩ Steinbock khẳng định, về lâu dài “tất cả các bên liên quan đều sẽ thua thiệt”.
Công Thuận (Tổng hợp)
Nguồn Tin Tức TTXVN : https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/chau-a-ung-pho-khung-hoang-nang-luong-giua-xung-dot-trung-dong-20260317161314930.htm