Sân bay Long Thành đang bị đặt nhiều dấu hỏi về hiệu quả hoạt động đầu tư. Ảnh: Lê Toàn
Đầu tư "vào đâu, bao nhiêu, từ đâu"
Thực tiễn của các quốc gia vượt qua bẫy thu nhập trung bình để vươn lên hàng ngũ các quốc gia phát triển cho thấy yêu cầu tất yếu của việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thay vì chỉ mạnh tay “bơm vốn”.
Trở thành điểm nóng tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị ngày 25/2 vừa qua, việc Tổng Bí thư Tô Lâm đặt ra những câu hỏi về hiệu quả đầu tư của dự án sân bay quốc tế Long Thành không chỉ dừng lại vấn để ở một công trình hạ tầng, mà là một "phép thử" cho tư duy điều hành kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với già hóa dân số, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế thế giới, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030 đặt ra yêu cầu rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam, trong đó vừa phải phát huy năng lực tự chủ của doanh nghiệp trong nước, vừa hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu.
Tại hội thảo về đa dạng vốn cho phát triển bền vững diễn ra cách đây không lâu, ông Nguyễn Bá Hùng - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhấn mạnh, với mục tiêu tăng trưởng GDP đặt ra giai đoạn 2026 - 2030 trên 10%/năm, nhu cầu vốn đầu tư được dự báo gia tăng mạnh, đặc biệt là vốn đầu tư xã hội dự kiến tăng từ mức 32% lên 40% GDP, tương đương mức tăng thêm khoảng 250 - 350 tỷ USD trong cùng giai đoạn.
Điều này cho thấy, mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030 sẽ chỉ khả thi nếu đầu tư đủ mạnh, lao động đủ năng suất và TFP (năng suất nhân tố tổng hợp) đủ cao, khai thác có hiệu quả thị trường trong và ngoài nước. Khi mô hình tăng trưởng mới vận hành thông suốt, Việt Nam không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng hai con số mà còn tạo nền tảng bền vững cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Tuy nhiên, một mô hình tăng trưởng mới vận hành thông suốt để giúp Việt Nam tăng trưởng từ 8% lên 10% cũng là bài toán khó. Xây dựng trên nền tảng nào và bằng những động lực như thế nào khi các năng suất lao động tăng chậm, dư địa chính sách tài khóa – tiền tệ thu hẹp, chất lượng thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển, trong khi quá trình chuyển đổi số và xanh vẫn còn nhiều điểm nghẽn... là những câu hỏi rất lớn.
Trong cả quá khứ và dài hạn sắp tới, dòng vốn đầu tư công đã và đang được mong muốn trở thành động lực then chốt giúp kinh tế Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số cùng hệ thống hạ tầng đồng bộ trong kỷ nguyên vươn mình.
Tuy nhiên, đã có những “chệch choạc” nhất định trong quá trình vận hành và tối ưu hóa hiệu quả từ dòng vốn này trong suốt một thời gian dài vừa qua, điển hình như câu chuyện của dự án sân bay quốc tế Long Thành được Tổng Bí thư Tô Lâm nêu ra.
Thay vì hô hào, bài toán mà người đứng đầu Đảng đặt ra buộc chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật về năng lực quản trị và tính khả thi của các siêu dự án, thay vì lấy mục tiêu “giải ngân đầu tư công” làm thước đo hiệu quả tăng trưởng. Trong đó, mỗi đồng vốn nhà nước bỏ ra phải được tính toán dựa trên khả năng hoàn vốn và tạo ra giá trị lan tỏa cho toàn bộ hệ sinh thái kinh tế xung quanh.
Cần tính toán kỹ hiệu quả đầu tư công
Thống kê của TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và quản lý Fulbright cho thấy, hiệu quả sử dụng vốn được đo lường bằng hệ số ICOR (đo lường để tăng một đồng sản lượng thì cần bao nhiêu vốn tăng thêm/ICOR càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp) của Việt Nam sau giai đoạn đại dịch Covid-19 là khoảng 5,85 - một mức được đánh giá là khá cao, tức hiệu quả sử dụng vốn còn thấp.
Điều này đồng nghĩa rằng Chính phủ cần phải cải thiện hiệu quả sử dụng vốn, đưa ICOR về dưới mức 5. Nếu ICOR về con số 4 thì vốn đầu tư toàn xã hội chỉ cần giữ nguyên mức đầu tư như hiện nay, nếu đạt 40% như kế hoạch đặt ra thì tăng trưởng GDP thậm chí còn có thể cao hơn 2,7 điểm phần trăm.
Vấn đề là ICOR của Việt Nam, như TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn nhấn mạnh trong 15 năm qua chưa bao giờ xuống dưới mức 4. Do đó, bài toán then chốt là phải cải thiện hiệu quả thay vì chỉ tăng quy mô vốn để thúc đẩy tăng trưởng.
Ngoài ra, một vấn đề khác cần chú ý là ICOR của khu vực doanh nghiệp nhà nước lên tới 15, cao gấp ba lần so với khu vực tư nhân hay khu vực FDI vốn chỉ ở mức 5.
Điều này cho thấy, để thực sự chiếm lĩnh “những cao điểm chiến lược” của nền kinh tế, khu vực kinh tế nhà nước phải được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, để thực sự cơ cấu lại mạnh mẽ, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, địa bàn trọng yếu, có tính chiến lược và sức lan tỏa cao.
Thực tế, câu chuyện sân bay Long Thành chỉ là một "lát cắt" nhỏ trong những vấn đề của đầu tư công trong suốt hàng chục năm vừa qua, dù đầu tư công luôn đóng vai trò trung tâm trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn.
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đầu tư công chiếm khoảng 67% tổng vốn của khu vực kinh tế nhà nước và 17,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn 2021 - 2025. Với tỷ trọng khoảng 6% trong GDP và tăng trưởng bình quân 11,1%/năm, đóng góp của đầu tư công vào GDP giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 10,6% (tương đương 0,67 điểm %/năm).
Tuy nhiên, xét trên góc độ cơ cấu, đầu tư công trong giai đoạn 2021 - 2025 còn chưa thực sự cân đối, hiệu quả, chất lượng đầu tư công còn thấp và hiệu ứng lan tỏa từ đầu tư công với vốn đầu tư ngoài nhà nước chưa đạt kỳ vọng (tăng trưởng của vốn đầu tư tư nhân và vốn FDI chỉ bằng 50% tăng trưởng đầu tư công).
Tỷ trọng đầu tư công các lĩnh vực giai đoạn 2021 - 2025. Nguồn: Bộ Tài chính, Viện Nghiên cứu đào tạo BIDV, Đỗ Thiên Anh Tuấn
Theo TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM), đầu tư công hiện chưa tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực đến khu vực tư nhân. Dữ liệu giai đoạn 2021 - 2024 cho thấy đầu tư công tăng nhưng không kéo theo tăng trưởng đầu tư tư nhân, thậm chí có hiện tượng “chen lấn”. Khi hiệu quả đầu tư công thấp, nó không chỉ làm giảm năng suất tổng hợp mà còn triệt tiêu động lực mở rộng sản xuất của khu vực tư nhân, ảnh hưởng tới cấu trúc tăng trưởng toàn nền kinh tế.
Đặc biệt, cơ cấu đầu tư công bộc lộ nhiều bất cập. Mặc dù vốn tập trung hơn vào hạ tầng giao thông và năng lượng, nhưng vẫn dành tỷ trọng đáng kể cho các lĩnh vực thương mại, lưu trú và bất động sản, những ngành vốn có khả năng tự huy động.
Trong khi đó, đầu tư cho khoa học công nghệ, giáo dục và y tế lại giảm. Xu hướng này khiến đầu tư công mất đi chức năng dẫn dắt chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Một ví dụ rõ nét là sự phát triển dàn trải trong lĩnh vực hạ tầng cảng biển và hàng không. Nhiều địa phương có tới hai sân bay hoặc cảng nước sâu, trong khi các trung tâm vận tải lớn như Tân Sơn Nhất và Nội Bài vẫn quá tải. Chỉ 6 trong số 21 cảng hàng không do ACV quản lý có lợi nhuận. Thực tế này cho thấy công tác quy hoạch thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng tài sản công thấp và sự lãng phí nguồn lực đầu tư đáng kể.
Tương tự, không phải là câu chuyện mới, thế nhưng, đội vốn, chậm tiến độ ở các dự án đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội (gồm các tuyến Nhổn - Ga Hà Nội; Cát Linh - Hà Đông; Yên Viên - Ngọc Hồi) và TP.HCM (các tuyến Bến Thành – Suối Tiên, Bến Thành - Tham Lương) vẫn khiến dư luận vô cùng quan ngại, khi sự lãng phí gây ra là rất lớn.
Không những vậy, các tuyến đường sắt trên cao của Hà Nội không kết nối được với nhau vì mỗi tuyến một tiêu chuẩn và công nghệ khác nhau. Hiện Hà Nội có các tuyến sử dụng công nghệ Trung Quốc, châu Âu và Nhật Bản, dẫn tới sự không đồng bộ về khổ cầu, toa xe, hệ thống tín hiệu, vận hành và bảo dưỡng. Hệ quả là các tuyến khó kết nối trực tiếp, hành khách chuyển tuyến bất tiện, trong khi hệ thống vé và dịch vụ đi kèm cũng chưa được tích hợp thống nhất.
Thực tế này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở kỹ thuật, mà cốt lõi là thiếu một quy hoạch và giải pháp tổng thể và nếu không sớm khắc phục sẽ làm giảm hiệu quả đầu tư và vai trò của vận tải công cộng trong phát triển đô thị bền vững.
Nhìn chung, theo các chuyên gia, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam tuy đã được cải thiện, bước đầu đã chuyển dần từ mô hình số lượng sang chất lượng, nhưng vẫn còn chậm, do nhiều yếu tố được nhận diện dưới các góc độ khác nhau. Với các nguồn vốn nhà nước, tình trạng chậm giải ngân tiếp tục là “căn bệnh kinh niên” của đầu tư công Việt Nam với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ quy trình phê duyệt phức tạp và trách nhiệm thực thi chưa rõ ràng.
Ngoài ra, những “lỗ hổng” trong công tác đấu thầu như áp dụng hình thức chỉ định thầu chưa đảm bảo quy định; hồ sơ mời thầu đưa ra tiêu chí làm hạn chế tính cạnh tranh giữa các nhà thầu, phân chia gói thầu chưa phù hợp, gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước liên tục được đưa ra trước pháp luật trong thời gian gần đây. Hệ quả của tình trạng này là không đảm bảo tính công bằng, minh bạch và cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động đầu tư, làm thui chột động lực phát triển, suy giảm lòng tin của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, làm méo mó chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước.
Đơn cử như câu chuyện của dự án bệnh viện Bạch Mai 2, Việt Đức 2 tại tỉnh Hà Nam (cũ), hay chính câu chuyện của sân bay Long Thành nêu trên khi từng vướng lùm xùm khiếu nại giữa các nhóm nhà thầu.
Trong đó, quá trình triển khai đường băng của dự án, ACV phải tổ chức 2 lần mời thầu mới lựa chọn được nhà thầu thi công nhà ga hành khách, thậm chí dẫn tới khiếu nại từ nhóm nhà thầu Hoa Lư (đứng đầu là Coteccons) đã có văn bản khiếu nại thành viên đứng đầu của liên danh Vietur (bao gồm Vinaconex, Ricons, Newtecons, SOL E&C, CC1, Phục Hưng Holdings, Hancorp, ATAD, Hawee Cơ điện) là Tập đoàn Công nghiệp và thương mại xây dựng IC (ICTAS).
Theo đó, nhóm nhà thầu Hoa Lư cho biết có bằng chứng cho thấy thành viên đứng đầu của liên danh Vietur đã vi phạm quy định về đấu thầu và không đủ tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật gói thầu 5.10
Mở rộng hơn đối với câu chuyện nguồn vốn ngoài nhà nước tuy ít bị thất thoát, lãng phí do bản thân chủ đầu tư, nhưng cũng có những khoản chi không nhỏ do nhiều “giấy phép con” ở các khâu đầu tư, xây dựng, cộng với hiệu quả sau khi đưa vào sử dụng, khi tỷ suất lợi nhuận trước thuế thấp - có ngành thấp hơn lãi suất tiền vay ngân hàng, trong đó ở không ít ngành còn thấp hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng, thậm chí ở một số ngành, đơn vị còn mang dấu âm (lỗ).
Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhìn chung có hiệu quả hơn hai khu vực trong nước, nhưng đã bị thấp hơn thực tế bởi tình trạng “chuyển giá” làm cho không ít doanh nghiệp bị lỗ trong nhiều năm, trong khi vẫn tiếp tục đầu tư, tăng vốn.
(còn tiếp)
Việt Dương