Họ bị thương, mất một cánh tay hồi còn rất trẻ, nhưng vẫn xin tiếp tục ở lại chiến đấu và trở thành người chỉ huy xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là Trung tướng Lê Hữu Đức (1925- 2018) và Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng (1919-2003).
Câu chuyện về họ không chỉ là những lát cắt của chiến tranh, mà còn là những minh chứng sống động cho một chân lý giản dị mà sâu sắc: con người có thể bị tổn thương về thể xác, nhưng còn ý chí, họ vẫn có thể đứng thẳng, vươn cao hơn bình thường.
“Con hổ cụt là con dũng mãnh nhất"
Khi Trung tướng Lê Hữu Đức còn sống, tôi thường hay đến nhà ông để hỏi chuyện về nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Đó là ngôi nhà nhỏ trong một hẻm nhỏ của phố Đội Nhân, Hà Nội. Hồi đó ông đã ngoài 90 tuổi, vóc người cao lớn, tuy có hơi mỏi mệt hơn so với mấy năm trước, song giọng ông vẫn ấm và sang sảng đặc trưng của người Hà Tĩnh.
Khi tôi hỏi biệt danh “Hổ cụt Tây Nguyên” do ai đặt cho ông, ông Đức nói không nhớ, chỉ biết rằng cả ta và địch đều gọi ông như vậy và ông rất tự hào về điều đó. Cái tên ấy, nghe qua có vẻ khắc nghiệt, nhưng lại chứa đựng một sự thừa nhận: một con hổ dù mất đi một phần cơ thể vẫn là con hổ đáng sợ nhất.
Sinh năm 1925 tại huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, năm 1945 khi đang học Tú tài ở Huế, chàng trai Lê Hữu Đức được giác ngộ cách mạng, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế và sau đó cùng đội quân nam tiến chiến đấu ở Quảng Nam.
Ngày 23/3/1947, khi chỉ huy đơn vị chống quân Pháp ở huyện Đại Lộc, ông Đức lúc đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 17, Trung đoàn 96, Liên khu 5 bị thương nặng. Do điều kiện khó khăn, bộ đội ta có gì mặc nấy. Ông khoác bộ đồ màu trắng nên trở thành mục tiêu của máy bay Pháp.
Sau loạt đại liên đầu tiên bắn không trúng, ông di chuyển thì dính đạn rồi bất tỉnh.
“Tôi tỉnh dậy ở bệnh viện huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Cổ, bờ vai trái được băng bó, còn bàn tay phải bị đạn xuyên được nẹp cố định. Vài ngày sau, bờ vai phải được anh y sĩ, giám đốc bệnh viện mổ để lấy các mảnh xương vụn ra. Mổ không có thuốc mê, đau không kể xiết”, Trung tướng Lê Hữu Đức kể.
Trung tướng Lê Hữu Đức - người có biệt danh "Hổ cụt Tây Nguyên".
Còn bàn tay, do thuốc men lúc bấy giờ khan hiếm, ông phải đeo nó vào người. Lúc công tác, chiến đấu rất vướng víu, lại thêm mùi hôi thối do bị hoại tử nên tháng 1/1949, ông quyết định cắt bỏ.
“Mất tay, tôi không buồn, nhưng sợ nhất là tổ chức cho giải ngũ, hoặc chuyển làm việc khác. Đất nước còn chiến tranh, mình mới 23 tuổi mà bị loại khỏi vòng chiến đấu thì không gì buồn bằng”, ông nói.
Nỗi sợ ấy là nỗi sợ lớn nhất của một người lính chân chính: không phải cái chết, mà là bị đứng ngoài cuộc chiến của dân tộc. Nhưng tuổi xuân, ý chí nghị lực và khả năng quân sự đã chiến thắng. Ông vẫn tiếp tục ở lại quân đội, không phải ở cơ quan, mà trực tiếp chiến đấu ở đơn vị.
Năm 1953, khi đang làm Trung đoàn phó Trung đoàn 108 của Liên khu 5, ông được điều ra Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu để phụ trách Tổ chiến trường xa. Được ở gần các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Thái, Trần Văn Quang là thời gian vô quý báu để ông Lê Hữu Đức hoàn thiện bản thân, nhất là khả năng quân sự.
Năm 1965, Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam thực hiện “Chiến tranh cục bộ”, cuộc chiến tranh bị đẩy lên một nấc thang mới. Đang là Trưởng Phòng tổng kết chiến tranh của Cục Khoa học Quân sự, ông tình nguyện xung phong vào chiến đấu ở Mặt trận Tây Nguyên, được trên bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 325B.
Từ đây cho đến khi lên làm Phó tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, biệt danh “Hổ cụt Tây Nguyên” gắn liền với tên tuổi của ông.
“Sao mọi người gọi ông là ‘Hổ cụt’?”, tôi hỏi.
“Thường con hổ cụt là con dũng mãnh nhất”, ông cười, “nhưng nói thế thôi, đi chiến đấu mà chỉ còn một tay là vô vàn khó khăn. Tôi người to cao, lại chỉ một tay, cậu thử tưởng tượng xem mỗi lần vào đồn địch trinh sát với dày đặc dây thép gai thì vất vả như thế nào? Thế mà tôi nhiều lần cùng với cấp dưới vào đồn địch. Bởi trong chiến đấu nếu người chỉ huy mà không tỉ mỉ, chính xác thì cầm chắc thất bại”.
Không những trực tiếp chỉ huy chiến đấu mà sau này ra cơ quan chiến lược làm Cục phó rồi Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu hay thời gian học ở Học viện Voroshilov, Liên Xô cũ, ông Lê Hữu Đức không ỷ lại mình là thương binh, mà tự vượt khó, tích lũy kinh nghiệm, học hỏi những tài năng quân sự trong và ngoài nước để trở thành một trong những người làm công tác tham mưu nổi tiếng ở Tổng hành dinh trong mùa Xuân Đại thắng năm 1975.
Ở ông, người ta thấy rõ một phẩm chất hiếm có: thiếu hụt về thể chất, ông nỗ lực bù đắp bằng trí tuệ và sự chuẩn xác trong từng quyết định.
Thiếu tướng chào bằng tay… trái
Trong quân đội ta có 2 người được chào bằng tay trái là Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu và Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường Lục quân 1.
Ông Nguyễn Thái Dũng sinh năm 1919 ở Cao Bằng. Tháng 8/1945, ông nhập ngũ. Năm 1948, khi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 147 đánh Pháp, ông bị thương cụt nửa cánh tay phải.
Vết thương chưa lành, sợ phải về tuyến sau, ông vội đến gặp Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái đề đạt nguyện vọng tiếp tục về đơn vị chiến đấu. Sau một thoáng nghi ngại, trước quyết tâm của người tiểu đoàn trưởng trẻ tuổi nổi tiếng gan dạ, đồng chí Hoàng Văn Thái chấp nhận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung đoàn trưởng Nguyễn Thái Dũng (ngoài cùng, bên trái) và Tiểu đoàn trưởng Dũng Mã trước hang đá Lam Sơn ở Cao Bằng năm 1950. Ảnh Vũ Năng An.
Ông được trở về trung đoàn cũ, đảm nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lũng Vài danh tiếng.
Ngày 28/8/1949, Đại đoàn Quân Tiên Phong, Sư đoàn 308 được thành lập, ông Nguyễn Thái Dũng được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88.
Mất bàn tay phải trong bối cảnh điều kiện sống và chiến đấu vô cùng ác liệt, ông Dũng vượt qua tất cả để cùng cán bộ chiến sĩ, trung đoàn làm nên những chiến thắng lẫy lừng: Chiến dịch đường số 4 Thu Đông 1949 tiêu diệt cứ điểm Nà Han, Bản Bé, Chiến dịch Biên giới 1950 cùng đơn vị bạn tiêu diệt cả binh đoàn Charton và Lepage, Chiến dịch Hòa Bình tháng 12/1951 đến tháng 2/1952 tiêu diệt cụm cứ điểm Tu Vũ, đánh địch trên đường số 6, bao vây tiến tới giải phóng thị xã Hòa Bình…
Một kỷ niệm đi suốt cuộc đời của Nguyễn Thái Dũng là sau Chiến dịch Biên giới, ông được gặp và chụp ảnh cùng Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Biết ông bị thương mất một tay, Bác khen ông “tàn nhưng không phế” và động viên ông tiếp tục khắc phục khó khăn, trau dồi đạo đức cách mạng, học tập kinh nghiệm đánh giặc của cấp trên và đồng đội để trở thành cán bộ quân sự tài đức vẹn toàn.
Lời khen giản dị ấy không chỉ là sự động viên, mà còn như một mệnh lệnh tinh thần, theo ông suốt cuộc đời binh nghiệp.
Cuộc đời quân ngũ của Nguyễn Thái Dũng theo cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, hết chiến dịch này đến chiến dịch khác, hết chiến trường này đến chiến trường khác.
Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, có thời gian ông được điều lên làm Cục phó Cục Tác chiến, 1955–1961, nhưng năm 1964 ông trở về đơn vị làm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 chiến đấu ở chiến trường khốc liệt Quảng Trị, sau đó là Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên, 1966–1967.
Cuối đời binh nghiệp, Thiếu tướng Thái Dũng là Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Lục quân 1, chuyên viên Học viện cấp cao.
Nếu như Lê Hữu Đức được gọi là “Hổ cụt Tây Nguyên”, thì Nguyễn Thái Dũng lại là hình ảnh của một người chỉ huy điềm tĩnh, bền bỉ, kiên định như đá tảng. Hai con người, hai phong cách, nhưng cùng hội tụ ở một điểm: không chấp nhận lùi bước.
Trong quân đội ta, có nhiều cán bộ, chiến sĩ từng nhiều lần bị thương, thậm chí bị thương rất nặng, nhưng thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “tàn nhưng không phế”, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, trở thành cán bộ cao cấp. Riêng Trung tướng Lê Hữu Đức và cố Thiếu tướng Nguyễn Thái Dũng là trường hợp đặc biệt, có sự trùng hợp rất thú vị.
Hai ông đều bị mất bàn tay trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp lúc còn rất trẻ với cương vị tiểu đoàn trưởng. Chỉ ở cơ quan nghiên cứu một thời gian, hai ông đều xung phong đi chiến đấu ở hai sư đoàn chủ lực rồi làm công tác tham mưu ở Mặt trận Tây Nguyên.
Tuy thời điểm có khác nhau, hai ông từng làm việc ở Cục Tác chiến. Cuối đời quân ngũ, cả hai đều là cán bộ của Học viện Quân sự cao cấp, nay là Học viện Quốc phòng…
Sự trùng hợp ấy không phải là ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một cơ chế lựa chọn và sử dụng con người rất đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Ngoài ý chí, nỗ lực vượt qua khó khăn của hai vị tướng, thì Đảng, Bác Hồ rất giỏi dùng nhân tài khi đánh giá đúng khả năng từng người dù họ có hạn chế về thân thể.
Ở đây, có một triết lý sâu xa: giá trị của con người không nằm ở sự toàn vẹn thể chất, mà nằm ở năng lực cống hiến. Và một khi được đặt đúng vị trí, đúng hoàn cảnh, con người có thể phát huy đến tận cùng tiềm năng của mình.
Hai vị tướng, mỗi người mất đi một cánh tay, nhưng Tổ quốc lại có thêm hai “cánh tay” vững vàng trong những thời khắc quyết định của lịch sử. Và có lẽ, điều đáng nhớ nhất không phải là họ đã mất đi điều gì, mà là họ đã giữ lại được điều gì: lòng trung thành, ý chí chiến đấu và niềm tin không lay chuyển vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Hồng Sơn