Minh họa: BH
Tết với tôi, chưa bao giờ bắt đầu bằng tờ lịch đỏ. Tết bắt đầu từ mũi.
Đó là cái mùi “hăng” của sự sống lại. Tôi nhớ những chiều 30 tết ở quê, cái lạnh se sắt bị khuất phục bởi một thứ mùi “quyền lực”: Hương lá mùi già.
Không phải là hương nước hoa tinh chế trong những lọ thủy tinh đắt tiền. Đó là cái mùi hăng hăng, cay cay, ngai ngái của cây rau mùi đã trổ hoa, kết trái, thân chuyển sang màu tía sẫm. Mẹ - người “nhạc trưởng” của gian bếp - bỏ cả nắm cây mùi quá lứa ấy vào nồi nước sôi sùng sục. Khi hơi nước bốc lên, cả không gian như được tẩy trần.
Tôi nhớ cảm giác ngồi co ro trong cái chậu nhôm méo mó, mẹ dội từng gáo nước nâu sóng sánh lên người. Hương mùi già xộc vào mũi, len lỏi qua từng lỗ chân lông, gột rửa sạch trơn những bụi bặm, xui rủi, những vết xước của một năm dài đằng đẵng. Cái mùi ấy thanh sạch đến mức, tôi ngỡ như mình vừa được tái sinh, bước ra khỏi chậu nước là thành một con người khác, thơm tho và thánh thiện, sẵn sàng để đón những điều tinh khôi.
Trong vô vàn thứ hương ngày tết, hương mùi già mang một cảm giác rất bình yên. Ấm lòng đến lạ. Thứ hương dân dã đất quê, mà đủ sức níu mùa xuân chảy về từ yêu thương. Từ những ước mong năm mới thơm tho, thanh sạch của những bà mẹ dành cho những đứa con thơ. Từ những mảnh ký ức bồi hồi mỗi độ cuối năm, khi đã trưởng thành, đi qua rất nhiều giông gió đời người, hương mùi già gợi những ảnh hình xưa cũ nhức nhối trái tim.
Và sau hương mùi già, tôi nhớ đến cái mùi “khét” của sự sum vầy.
Tôi đang nói về cái mùi khói cay xè mắt, mùi của củi gộc, của trấu, của vỏ lạc cháy sém... Những đêm canh nồi bánh chưng, khói bếp không chỉ bay lên trời, nó “ăn” vào mọi thứ. Nó ám vào vách tường nham nhở lọ nghẹ, ám vào mớ tóc rối của bà, ám vào chiếc áo bông sờn vai của cha. Đó là một thứ “nước hoa” kỳ lạ mà không hãng danh tiếng nào pha chế nổi.
Mùi khói ấy quyện với mùi nếp mới, mùi lá dong luộc chín, tạo nên một hương vị an toàn tuyệt đối. Tôi nhớ những lần đi học xa về, vừa bước xuống xe khách, gió tạt vào mặt mang theo mùi khói đốt đồng hay mùi bếp chiều của ai đó, nước mắt tôi tự nhiên ứa ra. Mùi khói là mùi của “về nhà”. Mùi khói báo hiệu rằng trong căn nhà nhỏ kia ngọn lửa vẫn đang cháy và có người vẫn đang đợi cơm mình.
Tôi nhớ quay quắt cái mùi mặn mòi, béo ngậy của nồi thịt kho tàu mà ngoại canh lửa suốt đêm. Mùi nước mắm ngon quyện với nước dừa xiêm, riu riu trên bếp than hồng, tạo nên một thứ hương thơm “gây nghiện” khủng khiếp. Cái mùi ấy len lỏi từ chạn bếp ra đến đầu ngõ, để đứa con đi xa vừa đặt chân xuống bến xe đã thấy bụng đói cồn cào và mắt cay cay: “Về đến nhà rồi!”.
Bây giờ, bếp gas, bếp từ sạch bong kin kít. Nồi áp suất hầm thịt 15 phút là mềm nhũn. Tiện nghi đấy, nhanh gọn đấy, nhưng cái mùi khói ấm nồng, cái mùi của sự kiên nhẫn, của thời gian đọng lại trong món ăn đã bay đi mất rồi. Chúng ta có những cái bếp sạch như ly như lau, nhưng lạnh lẽo.
Rồi cái mùi cao su ngai ngái của đôi dép mới, mùi vải hồ cứng ngắc của bộ quần áo duy nhất được mẹ mua cho trong năm. Với những đứa trẻ thời bao cấp hay những vùng quê nghèo khó, đó là “mùi của sự giàu sang”, mùi của giấc mơ thành hiện thực. Tôi nhớ mình đã hít hà đôi dép nhựa ấy cả đêm không ngủ, sợ đi vào thì mòn, chỉ dám rón rén xỏ chân vào sáng mùng một tết.
Nhưng đỉnh điểm của bản giao hưởng mùi hương ấy, nốt nhạc cao trào nhất khiến tôi rưng rưng chính là mùi của mẹ.
Bạn đã bao giờ thực sự “ngửi” mẹ mình vào ngày tết chưa? Đó là một tổ hợp mùi hương phức tạp nhất thế gian. Hỗn hợp ấy gồm: Mùi mồ hôi chua nồng sau những phiên chợ vét vội vã; mùi tanh của cá, mùi ngậy của thịt kho tàu, mùi hăng của hành tím ngâm chua ngọt; mùi khói nhang trầm bảng lảng trên bàn thờ gia tiên; và cả cái mùi trầu cau thoang thoảng... Tất cả những thứ đó quyện vào tấm áo vải phai màu của mẹ, ủ kỹ trong hơi ấm cơ thể mẹ, tạo thành cái “mùi tết” độc bản.
Ngày xưa, tôi thường rúc đầu vào vòng tay mẹ, hít hà cái mùi nồng nồng, ngai ngái ấy và cảm thấy bình yên lạ lùng. Cái mùi của sự hy sinh thầm lặng. Mẹ “hút” hết vào mình những vất vả, những ám khói, những dầu mỡ, để đổi lại cho chồng con sự tinh tươm, no đủ.
Tôi sợ. Tôi thực sự sợ một ngày nào đó, tết vẫn đến, đào vẫn nở, nhưng tôi không còn tìm thấy cái mùi nồng nàn ấy nữa. Tôi sợ những chiếc áo mới thơm phức mùi nước xả vải công nghiệp sẽ thay thế chiếc áo ám khói của mẹ. Tôi sợ mùi sơn tường mới sẽ lấp đi mùi vôi ve cũ kỹ. Tôi sợ sự tiện nghi sẽ làm “bay hơi” những ký ức rực rỡ nhất.
Tôi lao ra đường, bắt xe để về quê.
Về để làm gì? Chỉ để chạy ra sau vườn bứt một nắm lá mùi già, nhóm lên một đống lửa nhỏ, dù chỉ để đun một ấm nước chè. Để khói lại làm cay mắt tôi. Để được ôm lấy mẹ, hít một hơi thật sâu cái mùi mồ hôi mặn mòi trộn lẫn hương trầm ấm áp ấy. Để thấy mình còn có một chốn quay về. Để thấy tết vẫn còn “thơm” và mình vẫn là đứa trẻ được bao bọc trong cái kén ký ức nồng nàn ấy.
Vì còn mùi, là còn mẹ. Còn mẹ, là còn tết.
Tản văn của Lương Đình Khoa