Đại biểu Trần Văn Khải - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Media Quốc hội.
Sáng 22/4, tiếp tục kỳ họp thứ nhất, Quốc hội thảo luận tại hội trường dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam.
Phát biểu tại hội trường, đại biểu Trần Văn Khải - Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình cho rằng cần nhìn thẳng vào ba điểm nghẽn lớn đang cản trở phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, tỷ lệ chi ngân sách cho chuyển đổi số và hạ tầng công nghệ của ngành văn hóa vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu. Thực tiễn ngành di sản, thư viện, bảo tàng, điện ảnh và ngay cả ở các địa phương cho thấy một bức tranh khá thống nhất: nơi nào đi đầu số hóa thì nơi đó cũng đang đối diện với bài toán hạ tầng thiếu đồng bộ, cơ sở dữ liệu phân tán, phần mềm chưa tương thích, thiếu kinh phí duy trì và nâng cấp hệ thống.
Điều này cho thấy nếu Điều 10 dự thảo Nghị quyết chỉ dừng ở mức “ưu tiên đầu tư” mà không gắn chặt với cơ chế phân bổ nguồn lực tại Điều 3 thì rất khó tạo chuyển biến thực chất, ông Khải nhấn mạnh.
Thứ hai, theo đại biểu, thiếu hụt nhân lực số đang là điểm nghẽn chiến lược của phát triển văn hóa số. "Chúng ta đều nói nhiều về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, sáng tạo nội dung số, nhưng phải thẳng thắn rằng nhân lực đủ năng lực để làm những việc đó trong khu vực công, ngành văn hóa hiện nay còn rất mỏng. Không chỉ thiếu số lượng mà còn thiếu nhân lực có chiều sâu về AI, dữ liệu, điện toán đám mây và an ninh mạng," đại biểu nêu.
Trong khi đó, theo đại biểu, cơ chế tiền lương, đãi ngộ, tuyển dụng của khu vực công chưa đủ sức cạnh tranh với khu vực tư nhân. Vì vậy, nếu Điều 7 dự thảo không được sửa theo hướng xác định rõ nhóm nhân lực trọng điểm và cơ chế thu hút, đặt hàng đào tạo, tuyển dụng theo dự án, hợp đồng chuyên gia, thì điều khoản này sẽ chưa giải quyết trúng căn nguyên của bài toán nhân lực.
Thứ ba, điểm nghẽn nằm ở nguồn lực đầu tư từ ngân sách cho phát triển văn hóa nói chung vẫn còn có hạn. Dự thảo Nghị quyết quy định "Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách Nhà nước" tại Điều 3 là rất đúng, nhưng theo ông Khải vẫn chưa đủ.
"Vấn đề không chỉ là có 2%, mà là 2% đó được cơ cấu ra sao, bao nhiêu cho thiết chế cơ sở, bao nhiêu cho bảo tồn di sản, bao nhiêu cho chuyển đổi số, bao nhiêu cho an ninh văn hóa số, bao nhiêu cho đào tạo nhân lực số của ngành văn hóa. Nếu không làm rõ, chúng ta có thể đạt chỉ tiêu về tổng lượng chi, nhưng không đạt được mục tiêu chiến lược về hiệu quả chi," đại biểu nêu.
Từ ba điểm nghẽn đã nêu, vị đại biểu đề nghị ngoài việc bảo đảm mức sàn 2% tổng chi ngân sách Nhà nước cho văn hóa, cần quy định rõ ưu tiên bố trí kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự toán ngân sách hằng năm cho chuyển đổi số văn hóa, hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia, số hóa di sản đã xếp hạng, bảo quản số lâu dài và an ninh văn hóa số.
Đại biểu Khải cũng nhấn mạnh cần bổ sung nhóm nhân lực trọng điểm gồm AI, dữ liệu lớn, bảo tồn số, công nghệ 3D/AR/VR/XR, quản trị bản quyền số, an ninh mạng, sáng tạo nội dung số.
Đồng thời, đại biểu góp ý việc cho phép áp dụng cơ chế đặt hàng đào tạo, hợp đồng chuyên gia, tuyển dụng đặc cách theo dự án, chính sách học bổng và đồng tài trợ công - tư để hình thành đội ngũ nhân lực số cho văn hóa.
Bên cạnh đó, theo đại biểu tỉnh Ninh Bình, cần quy định rõ chuẩn dữ liệu, trách nhiệm liên thông cơ sở dữ liệu, luật hóa ngay trong Nghị quyết mốc hoàn thành số hóa 100% di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
Ông Khải cũng góp ý cần thiết kế Quỹ văn hóa, nghệ thuật thực sự trở thành công cụ dẫn dắt đổi mới sáng tạo, có thể đầu tư cho startup công nghệ văn hóa, nền tảng nội dung số, mô hình bảo tồn số. Song bên cạnh đó, ông lưu ý phải có cơ chế quản trị quỹ hết sức chặt chẽ, minh bạch, không để biến một chủ trương đúng thành một thiết chế rủi ro.
"Việc ban hành nghị quyết phát triển văn hóa, mới chỉ đi được nửa chặng đường. Nửa chặng đường còn lại phải tạo ra những cơ chế đủ đột phá, đủ cụ thể và đủ khả thi để văn hóa bước ra khỏi tình trạng "đúng nhưng khó làm", "muốn làm nhưng thiếu nguồn lực", "có mục tiêu nhưng thiếu công cụ"," theo đại biểu Trần Văn Khải.
Ông nhấn mạnh 3 trọng tâm bắt buộc là nguồn lực tài chính đủ mạnh, nhân lực số đủ sâu và hạ tầng dữ liệu - nền tảng - an ninh văn hóa số đủ đồng bộ. Với định hướng đó, đại biểu tin văn hóa không chỉ được bảo tồn, mà còn có thể kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa số hiện đại, nhân văn, an toàn, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng góp xứng đáng vào tăng trưởng, vào sức mạnh mềm quốc gia và vào khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH TP Huế. Ảnh: Medai Quốc hội.
Chuyển tư duy từ "làm văn hóa" sang "phát triển công nghiệp văn hóa"
Cũng góp ý vào dự thảo nghị quyết, đại biểu Nguyễn Thị Sửu - Đoàn ĐBQH TP Huế cho rằng cần tập trung vào nội dung then chốt là phát triển công nghiệp văn hóa.
Về cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa tại Điều 4, đại biểu đánh giá cao dự thảo đã thể hiện chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển từ "làm văn hóa" sang "phát triển công nghiệp văn hóa".
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng dự thảo hiện nay mới dừng ở mức định hướng, chưa đủ độ chặt chẽ để hình thành một ngành kinh tế văn hóa đúng nghĩa. Thực tiễn cho thấy, một số mô hình thí điểm tại Đà Nẵng, TP HCM hay Hà Nội đã hình thành nhưng sản phẩm đầu ra chưa mang đậm bản sắc Việt Nam, còn thiên về gia công nội dung, phụ thuộc công nghệ và vốn ngoại. Điều này đặt ra một vấn đề rất đáng suy nghĩ, nếu không có thiết kế chính sách đủ mạnh, chúng ta có thể xây dựng "cụm sáng tạo", nhưng lại không tạo ra "giá trị văn hóa Việt".
Từ đó, đại biểu đề nghị, dự thảo Nghị quyết cần định nghĩa rõ và lượng hóa "cụm công nghiệp sáng tạo văn hóa". Không thể chỉ dừng ở mô tả mà phải có tiêu chí cụ thể về tỷ lệ doanh nghiệp sáng tạo văn hóa; tỷ lệ sản phẩm mang yếu tố văn hóa Việt; yêu cầu về nghiên cứu - đào tạo - đổi mới sáng tạo. Nếu không, rất dễ xảy ra tình trạng "gắn mác văn hóa" cho các khu thương mại đơn thuần.
Đại biểu cũng đề nghị dự thảo Nghị quyết, bổ sung các tiêu chí từ khai thác chất liệu văn hóa dân tộc đến chuyển hóa sáng tạo thành sản phẩm mới và khả năng lan tỏa, xây dựng thương hiệu quốc gia. Đặc biệt, cần cơ chế mạnh về sở hữu trí tuệ và kinh tế hóa tài sản văn hóa. Trong thời đại số, giá trị cốt lõi nằm ở tài sản trí tuệ, nếu không có cơ chế bảo hộ, cơ chế định giá và cơ chế khai thác thương mại thì công nghiệp văn hóa sẽ không thể phát triển bền vững
Kiều Chinh