Một con đường tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Đức Nguyên
Hoạt động trầm lắng ngoài mùa lễ hội
Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam được phê duyệt xây dựng từ năm 1997 với mục tiêu trở thành trung tâm bảo tồn, tái hiện và giới thiệu đời sống văn hóa của cộng đồng 54 dân tộc trên cả nước.
Dự án có tổng diện tích hơn 1.544 ha, bao gồm nhiều khu chức năng như làng các dân tộc, khu trung tâm văn hóa, khu dịch vụ du lịch và khu cây xanh mặt nước. Sau nhiều năm xây dựng, nơi đây chính thức mở cửa đón khách từ năm 2010 và thường xuyên được lựa chọn làm địa điểm tổ chức các sự kiện văn hóa lớn mang tầm quốc gia.
Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Đức Nguyên
Với quy mô đầu tư lớn cùng hệ thống kiến trúc được phục dựng công phu, làng văn hóa từng được kỳ vọng sẽ trở thành điểm đến văn hóa, du lịch đặc trưng của cả nước. Tuy nhiên, theo ghi nhận thực tế, lượng khách tham quan tại đây có sự chênh lệch rõ rệt giữa các dịp lễ hội và những ngày bình thường. Khi không có chương trình hay sự kiện cụ thể, nhiều khu vực trong làng trở nên vắng vẻ, các hoạt động trải nghiệm, trình diễn văn hóa diễn ra hạn chế hoặc tạm dừng.
Một số du khách cho biết họ biết đến làng văn hóa thông qua các sự kiện lớn được quảng bá trên truyền thông, song lại ít có thói quen đến tham quan vào những ngày không có lễ hội. Điều này khiến lượng khách tại đây tập trung theo mùa, trong khi những ngày còn lại, không gian rộng lớn của khu du lịch chưa được khai thác hết công năng.
Nghệ nhân và du khách mong có thêm hoạt động thường xuyên
Tại khu vực không gian văn hóa của người Tà Ôi, các nghệ nhân vẫn duy trì công việc hằng ngày như dệt zèng, đan lát các sản phẩm thủ công truyền thống. Tuy nhiên, trong bối cảnh lượng khách không ổn định, những hoạt động này nhiều khi chỉ mang tính duy trì nghề hơn là trình diễn trước công chúng. Khi có đoàn khách đến tham quan, các nghệ nhân mới có cơ hội giới thiệu quy trình dệt, ý nghĩa hoa văn cũng như câu chuyện văn hóa gắn với từng sản phẩm.
Một nghệ nhân chia sẻ rằng vào những dịp cuối tuần hoặc lễ hội, không khí trong làng trở nên nhộn nhịp hơn khi có nhiều đoàn khách tham quan, chụp ảnh và giao lưu. Ngược lại, những ngày thường, số lượng khách ít khiến việc biểu diễn và giao lưu văn hóa cũng bị hạn chế.
Không chỉ nghệ nhân, một số du khách cũng bày tỏ mong muốn có thêm các hoạt động trải nghiệm thường xuyên để chuyến tham quan trở nên sinh động hơn. Chị Trang, một du khách đến từ Hà Nội, cho biết gia đình chị lựa chọn tham quan làng văn hóa để con có cơ hội tìm hiểu về các dân tộc Việt Nam, tuy nhiên thời gian tham quan thực tế khá ngắn do thiếu các hoạt động để trải nghiệm sâu hơn.
Người Tà Ôi biểu diễn điệu múa văn hóa dân tộc. Ảnh: Đức Nguyên
Bài toán phát huy hiệu quả một công trình quy mô lớn
Theo thông tin từ Ban quản lý, trong những năm gần đây, làng văn hóa đã nỗ lực tổ chức nhiều chương trình lễ hội, sự kiện theo chủ đề gắn với các vùng văn hóa nhằm thu hút khách tham quan. Các hoạt động như tái hiện lễ hội truyền thống, trình diễn nghệ thuật dân gian, giới thiệu nghề thủ công được tổ chức định kỳ, đặc biệt vào các dịp lễ, tết và cuối tuần.
Tuy nhiên, việc duy trì lượng khách ổn định quanh năm vẫn là một thách thức. Thói quen du lịch của nhiều người dân hiện nay thường tập trung vào các dịp nghỉ lễ, trong khi những ngày làm việc bình thường ít được lựa chọn cho các chuyến tham quan xa trung tâm thành phố.
Bên cạnh đó, khoảng cách địa lý và việc thiếu các dịch vụ bổ trợ như ăn uống, nghỉ chân phong phú cũng được cho là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định quay lại của du khách.
Với quy mô đầu tư lớn và vai trò đặc biệt trong việc bảo tồn, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc, Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam vẫn được kỳ vọng sẽ phát huy hiệu quả trong tương lai.
Việc đa dạng hóa hoạt động, tăng cường quảng bá và xây dựng thêm các sản phẩm trải nghiệm phù hợp với nhu cầu của du khách hiện đại có thể là những giải pháp giúp nơi đây khai thác tốt hơn tiềm năng vốn có.
Lê Quang Trường