Bảo đảm đồng bộ, thích ứng thực tiễn phát triển
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sau gần 5 năm thực hiện Nghị quyết số 39/2021/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Kế hoạch sử dụng đất quốc gia 5 năm 2021 - 2025 cho thấy có nhiều yếu tố mới đã xuất hiện, từ thay đổi mục tiêu tăng trưởng, điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia đến việc hoàn thiện hệ thống quy hoạch ngành, quy hoạch địa phương.
Đặc biệt, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính các cấp và nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng quy mô lớn như đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, cảng biển, sân bay… đã làm thay đổi đáng kể nhu cầu sử dụng đất.
Trong khi đó, tại thời điểm ban đầu, nhiều quy hoạch ngành và quy hoạch tỉnh chưa hoàn thiện, dẫn tới việc dự báo nhu cầu đất đai chưa đầy đủ. Đặc biệt, quy hoạch tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tuy nhiên có nhiều địa phương đề xuất chỉ tiêu sử dụng đất đến năm 2030 có sự tăng, giảm khá lớn so với chỉ tiêu đã được Thủ tướng Chính phủ phân bổ, cho thấy sự cần thiết phải điều chỉnh chỉ tiêu sử dụng đất đối với một số loại đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống quy hoạch có sử dụng đất.
Do đó, điều chỉnh quy hoạch lần này nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong hệ thống quy hoạch, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Việc điều chỉnh quy hoạch lần này được đặt trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng cao, đòi hỏi phân bổ hiệu quả hơn nguồn lực đất đai, yếu tố nền tảng của mọi hoạt động kinh tế-xã hội.
Tái cơ cấu sử dụng đất, ưu tiên hạ tầng và đô thị
Một trong những nội dung đáng chú ý là sự điều chỉnh mạnh về cơ cấu sử dụng đất. Theo phương án đề xuất, diện tích đất nông nghiệp đến năm 2030 giảm còn khoảng 26,69 triệu ha, giảm hơn 1 triệu ha so với quy hoạch trước đó. Ngược lại, đất phi nông nghiệp tăng mạnh lên khoảng 6,05 triệu ha, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp, đô thị, hạ tầng và dịch vụ.
Đáng chú ý, đất trồng lúa được điều chỉnh giảm còn khoảng 3,25 triệu ha, giảm hơn 654 nghìn ha so với hiện trạng năm 2024 để có dư địa, nguồn lực phát triển, dự phòng phát sinh thực hiện các dự án hạ tầng chiến lược quốc gia, cấp vùng, liên vùng, liên tỉnh và đảm bảo đáp ứng kịp thời, linh hoạt trong điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của giai đoạn mới. Song vẫn bảo đảm sản lượng khoảng 34,4 triệu tấn thóc mỗi năm, cao hơn mức cần thiết để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.
Điều này cho thấy định hướng linh hoạt trong sử dụng đất, vừa giữ vững an ninh lương thực, vừa tạo không gian phát triển mới.
Bên cạnh mục tiêu phát triển, quy hoạch điều chỉnh tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái. Theo đó, đến năm 2030, diện tích đất lâm nghiệp được duy trì ở mức hơn 15,57 triệu ha, tăng 31,9 nghìn ha so với năm 2024, bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng ổn định khoảng 42% theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Trong đó, đất rừng đặc dụng được tăng thêm để mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên, trong khi rừng phòng hộ và rừng sản xuất được rà soát, điều chỉnh phù hợp với thực tiễn. Định hướng này góp phần bảo vệ hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.
Đảm bảo nhu cầu sử dụng đất để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Tại Dự thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 4 mục tiêu điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất quốc gia.
Mục tiêu quan trọng nhất là đảm bảo nhu cầu sử dụng đất để thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đạt trên 8,0%/năm thời kỳ 2021 - 2030, trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%.
Quy hoạch sử dụng đất đặc biệt ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; trong đó chú trọng nhu cầu phát triển tại vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế. Bảo đảm quỹ đất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về giáo dục, y tế, xã hội, văn hóa, thể dục, thể thao, nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân khu công nghiệp; quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh.
Về đất lúa, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định quản lý diện tích đất trồng lúa đáp ứng đủ nhu cầu an ninh lương thực quốc gia và có một phần dành cho xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu sản xuất linh hoạt một phần diện tích đất trồng lúa nhưng không làm thay đổi tính chất, điều kiện sử dụng đất trồng lúa; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi đất trồng lúa, nhất là đất chuyên trồng lúa núoc sang đất phi nông nghiệp. Quản lý, phát triển và nâng cao chất lượng rừng đảm bảo tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%, lượng phát thải khí nhà kính giảm 8-9%.
Để tăng hiệu quả sử dụng đất, quy hoạch sẽ định hướng tiếp tục đưa diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng, thực hiện khai hoang, lấn biển, tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; cải tạo, phục hồi diện tích đất bị thoái hóa, nâng cao sức khỏe đất gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.