Trước “luật chơi” mới, các doanh nghiệp ngành cao su ở Gia Lai đã chủ động chuẩn hóa vùng nguyên liệu, kiểm soát chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực quản trị nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, giữ vững thị trường xuất khẩu chiến lược.
Theo EUDR, các sản phẩm như gỗ, cà phê, ca cao, dầu cọ, đậu nành, gia súc và cao su khi xuất khẩu vào Liên minh châu Âu (EU) phải chứng minh không phát sinh từ diện tích rừng bị chuyển đổi sau ngày 31-12-2020, đồng thời truy xuất được nguồn gốc đến từng thửa đất. Đây được xem là một trong những bộ quy định nghiêm ngặt nhất của EU liên quan đến thương mại gắn với bảo vệ môi trường.
Chuẩn hóa vùng nguyên liệu
Đối với tỉnh Gia Lai, địa phương có diện tích cao su lớn với nhiều DN thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), EUDR tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, chế biến và xuất khẩu.
EU là thị trường khó tính nhưng có giá trị gia tăng cao, nhất là trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đang mở ra nhiều cơ hội cho các sản phẩm đạt chuẩn bền vững.
Nhận diện sớm tác động của EUDR, các công ty cao su trên địa bàn tỉnh đã chủ động rà soát hiện trạng đất đai, hồ sơ pháp lý, xây dựng lộ trình thích ứng theo từng giai đoạn, trong đó ưu tiên chuẩn hóa vùng nguyên liệu và dữ liệu đất đai.
Chế biến mủ cao su tại Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Păh. Ảnh: Hà Đức Thành
Tại Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Păh (xã Chư Păh), gần 6.200 ha cao su được lập bản đồ số hóa, tích hợp dữ liệu tọa độ địa lý, thời điểm chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bảo đảm không phát sinh từ đất rừng sau mốc thời gian EUDR quy định.
Anh Rơ Châm Dân - công nhân Đội sản xuất Hòa Phú 1 (Nông trường Cao su Hòa Phú, thuộc Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Păh) cho biết, các yêu cầu về quản lý rừng bền vững đã được người lao động tiếp cận từ trước.
Tuy nhiên, khi triển khai EUDR, công nhân được hướng dẫn kỹ hơn về việc ghi chép hồ sơ theo từng cá nhân, ca khai thác, khối lượng mủ, gắn với tọa độ từng lô cao su, bảo đảm truy xuất đến từng người khai thác và từng diện tích vườn cây.
Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Sê (xã Chư Sê) là một trong những đơn vị tiên phong của VRG tại Gia Lai trong thích ứng với EUDR. Hiện công ty quản lý trên 7.300 ha cao su, toàn bộ diện tích đều được rà soát pháp lý về đất đai, xác định mốc thời gian sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc gắn với bản đồ số hóa vườn cây.
Đáng chú ý, Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Sê đã hoàn thành xây dựng và vận hành Hệ thống trách nhiệm giải trình PEFC EUDR DDS (bộ tiêu chuẩn PEFC ST 2002-1:2024 do Hội đồng PEFC (Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng) ban hành nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tuân thủ EUDR, áp dụng từ cuối năm 2025).
Hệ thống này cho phép doanh nghiệp quản lý rủi ro, minh bạch nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu báo cáo theo chuẩn thị trường EU. “EUDR không chỉ là một bộ tiêu chí kỹ thuật mà là sự thay đổi căn bản trong cách quản trị DN, buộc phải làm từ gốc nếu không muốn bị loại khỏi chuỗi cung ứng” - ông Nguyễn Văn Thắng - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Sê khẳng định.
Công nhân Công ty TNHH một thành viên Cao su Mang Yang khai thác mủ cao su. Ảnh: Hà Duy
Tương tự, Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Prông (xã Chư Prông), Công ty TNHH một thành viên Cao su Mang Yang (xã Đak Đoa) cũng không nằm ngoài “dòng chảy” này.
Theo các doanh nghiệp, quá trình triển khai EUDR đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, song đổi lại, doanh nghiệp sẽ kiểm soát tốt hơn nguồn nguyên liệu, hạn chế rủi ro pháp lý và nâng cao uy tín với các đối tác quốc tế.
Kiểm soát chặt chuỗi cung ứng
Không dừng ở vùng nguyên liệu, các doanh nghiệp ngành cao su tại Gia Lai còn tập trung kiểm soát chặt các khâu thu gom, vận chuyển và chế biến - những mắt xích dễ phát sinh rủi ro trong chuỗi truy xuất nguồn gốc.
Tại các đội sản xuất, quy trình giao nhận mủ được chuẩn hóa thống nhất. Theo anh Trương Công Đạt - Đội trưởng Đội sản xuất Hòa Phú 1, mỗi chuyến mủ đều có phiếu giao nhận và kẹp chì niêm phong từ đội sản xuất đến xe bồn và nhà máy, bảo đảm không có sự trộn lẫn giữa các nguồn nguyên liệu khác nhau.
Ở khâu chế biến, các nhà máy cao su trên địa bàn tỉnh đã triển khai hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm PEFC-CoC (quy định các yêu cầu đối với doanh nghiệp chế biến, kinh doanh lâm sản nhằm giám sát và chứng minh nguyên liệu có nguồn gốc từ rừng quản lý bền vững, có kiểm soát).
Hệ thống này cho phép phân loại rõ nguyên liệu đầu vào, kiểm soát sản phẩm đầu ra, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về môi trường, an toàn lao động và trách nhiệm xã hội.
Cuối năm 2025, Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Păh đã công bố các sản phẩm cao su đáp ứng EUDR, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Theo ông Huỳnh Văn Lanh - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cao su Chư Păh, việc đáp ứng EUDR giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, giảm rủi ro về nguồn nguyên liệu và tạo nền tảng để mở rộng các chứng nhận quốc tế khác trong thời gian tới.
Quá trình thích ứng với EUDR đòi hỏi chi phí đầu tư lớn về công nghệ, nhân lực và sự thay đổi trong tư duy sản xuất. Tuy nhiên, trong bối cảnh các tiêu chuẩn môi trường toàn cầu ngày càng siết chặt, đây là con đường tất yếu để duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thực tiễn tại Gia Lai cho thấy, EUDR đã và đang chuyển từ “rào cản kỹ thuật” thành động lực thúc đẩy ngành cao su tái cấu trúc theo hướng minh bạch, có trách nhiệm và bền vững hơn.
Từ việc chuẩn hóa vùng nguyên liệu đến khép kín chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp cao su trên địa bàn tỉnh đang từng bước thích ứng với yêu cầu mới, qua đó khẳng định vị thế của cao su Gia Lai trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
HÀ DUY