Khép lại trang sách cuối cùng, điều còn đọng lại không chỉ là cảm giác thích thú của một người đọc tiểu thuyết, mà còn là sự suy ngẫm trước hành trình khảo cứu công phu nhằm giải mã một trong những bí ẩn lớn của văn học Việt Nam: Nơi an nghỉ cuối cùng của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Lưu bút tác giả Nghiêm Thị Hằng tặng sách cho Vũ Xuân Bân đề ngày 5-5-2026.
Điều đáng chú ý, “Ảo mờ lăng mộ Hồ Xuân Hương” được viết theo thể loại tiểu thuyết tư liệu lịch sử phi hư cấu – một lối viết rất khó. Khó bởi người viết phải đi trên ranh giới mong manh giữa tính xác thực của tư liệu và sức hấp dẫn của nghệ thuật tự sự. Đọc tác phẩm, nhiều lúc người ta gần như không thể phân biệt đâu là “thực”, đâu là “hư cấu”, bởi mọi nhân vật, địa danh và sự kiện đều bám chặt vào lịch sử.
Tiểu thuyết "Ảo mờ lăng mộ Hồ Xuân Hương do NXB Trí thức vừa ấn hành.
Hành trình giải mã một bí ẩn văn hóa
Điểm hấp dẫn nhất của tác phẩm nằm ở hành trình truy tìm phần mộ Hồ Xuân Hương – hành trình mà tác giả ví như “mò kim đáy bể”. Qua từng chương sách, người đọc bị cuốn theo những dấu vết tưởng như rời rạc nhưng dần được kết nối bằng logic nghiên cứu khá chặt chẽ.
Các nhân vật trong tiểu thuyết hoàn toàn là người thưc trong lịch sử nhiều biến động cuối Lê – đầu Nguyễn. Chính sự kết hợp giữa tư liệu lịch sử, phả hệ, văn bia, giai thoại dân gian và trí tưởng tượng tiết chế đã khiến cuốn sách có sức hút đặc biệt.
Từ ông đồ Hồ Phi Diễn là cha của Hồ Phi Mai (tức Hồ Xuân Hương – “Bà chúa thơ Nôm”), nhân vật Nguyễn Du và 2 người chồng của bà Hồ Xuân Hương là ông Nguyễn Bình Kình (Tổng Cóc ở làng Gáp, xã Tứ Xã cũ, nay sáp nhập gọi là xã Phùng Nguyên, tỉnh Phú Thọ), người chồng thứ 2 là ông Phủ Vĩnh Tường. Người chồng thứ nhất là ông Đội Kình Tổng Cóc cưới năm 1802 và chia tay năm 1804 Hồ Xuân Hương về nhà mẹ đẻ ở thôn Tiên Thị, Kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Người chồng thứ 2 của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là ông Trần Phúc Hiển, Tri phủ Tam Đái (1810-1813) tiền thân của Phủ Vĩnh Tường. Năm 1814, ông Trần Phúc Hiển đi nhậm chức quan Tham hiệp Yên Quảng (Quảng Ninh) cưới nữ sĩ Hồ Xuân Hương năm 1816. Cũng năm 1814 thì Phủ Tam Đái đổi tên thành Phủ Vĩnh Tường, nay thuộc tỉnh Phú Thọ.
Bi kịch cuộc đời Hồ Xuân Hương được tái hiện đầy ám ảnh. Sau cuộc hôn nhân đầu với Tổng Cóc tan vỡ, bà kết duyên với Tri phủ Tam Đái Trần Phúc Hiển. Nhưng hạnh phúc chẳng kéo dài bao lâu thì tai họa ập xuống. Tháng 5/1818, Trần Phúc Hiển gặp đại họa; bị thuộc cấp vì ghen ghét, thâm thù đã xúi dân Van Ninh gửi đơn kiện quan Trần Phúc Hiển nhận 700 quan tiền hối lộ (tr165). Biết chồng bị oan, Hồ Xuân Hương chạy vào kinh thành Huế kê oan cho chồng, được Nguyễn Du giúp nàng đệ đơn kêu oan lên Vua Gia Long nhưng không được xuống chiếu giải oan, bèn ban cho tử tù Trần Phúc Hiển 3 đặc ân: Được sống thêm 60 ngày sau tiết lập thu mới thi hành án; được chọn nơi thụ hình tại Tam Kỳ (Đà Nẵng); và cuối cùng, ông được chọn dải lụa đào để tự vẫn (tr167). Trần Phúc Hiển mất ngày 16/9/1819 (Kỷ Hợi). Bài thơ cuối cùng của Hồ Xuân Hương chính là tiếng khóc tiễn biệt chồng bằng tất cả duyên nợ ba sinh. Ngày 14 (Quý Sửu), tháng 9 (Kỷ Dậu) năm Nhâm Ngọ (tức ngày 28/9/1822), nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua đời (tr168). Những trang viết về quãng đời này tạo nên sắc thái bi thương, khiến người đọc thêm cảm nhận thân phận long đong của người phụ nữ tài hoa trong xã hội phong kiến.
Hai nhân vật đáng chú ý nữa trong tiểu thuyết “Ảo mờ lăng mộ Hồ Xuân Hương” là Trần Sài, và Trần Hòa đều là cháu ruột của Trần Phúc Hiển. Trần Sài, Chánh đội trưởng Đội 6 vệ 2 lực lượng Thủy sư Kinh kỳ triều Nguyễn ở Huế được tác giả mô tả là người cháu gọi Hồ Xuân Hương là thím, có hiếu, có công đưa hài cốt thím Hồ Xuân Hương từ Nghi Tàm (Hà Nội) về Tam Kỳ an táng bên mộ chồng Trần Hữu Hiếu và bà Phan Thị (vợ cả).
Tác giả Nghiêm Thị Hằng bên lăng mộ 1850 "Huỳnh Hoàng Nhân" tại Tam Kỳ - Đà Nẵng.
Còn Trần Hòa được tác giả khắc họa là Nho sĩ đã chủ ý để lại các ký hiệu kiến trúc, nội dung bia mộ minh bia, từ mộ Giày (mộ người chồng là ông Trần Phúc Hiển) đến lăng mộ 1850 Phan Thị (vợ cả) và lăng mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân (vợ thiếp, tức Hồ Xuân Hương), như những ký hiệu để lại cho hậu duệ đời sau kết nối thông tin, mối quan hệ giữa 3 ngôi mộ cổ này, là mộ vợ chồng.
Từ đây, tác phẩm mở ra câu hỏi lớn: Phần mộ Hồ Xuân Hương thực sự ở đâu?
Bằng hàng loạt tư liệu lịch sử, tác giả Nghiêm Thị Hằng cùng cộng sự đã đưa ra 26 căn cứ khoa học, gắn kết giữa lịch sử, phả hệ, minh bia và kiến trúc mộ cổ để xác định mộ 1850 mang tên “Huỳnh Hoàn Nhân” ở Tam Kỳ (Đà Nẵng) có thể chính là nơi yên nghỉ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đây là phát hiện gây chú ý trong giới nghiên cứu suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tác giả dành nhiều công sức phân tích các chi tiết tưởng rất nhỏ trên bia mộ và bình phong: Hình con dơi, vòng xích tay tù nhân, dây tua rua tơ hồng, các họa tiết xoáy ốc, gương mặt nam nữ được chạm khắc… Từ đó, tác giả lý giải đây không đơn thuần là hoa văn trang trí mà là những “mật mã văn hóa” nhằm lưu giữ thông tin về mối quan hệ giữa ba ngôi mộ cổ: Mộ Trần Phúc Hiển, mộ Phan Thị (vợ cả) và mộ Huỳnh Hoàn Nhân (vợ thiếp – nghi là Hồ Xuân Hương).
Đọc những trang này, người đọc có cảm giác như đang bước vào một cuộc điều tra lịch sử, nơi mỗi chi tiết nhỏ đều có thể trở thành chìa khóa giải mã quá khứ.
Từ tiểu thuyết đến khát vọng tôn vinh di sản Hồ Xuân Hương
Không chỉ dừng ở giá trị văn chương, “Ảo mờ lăng mộ Hồ Xuân Hương” còn cho thấy tâm huyết của một nhà nghiên cứu nhiều năm theo đuổi việc làm sáng tỏ thân thế và cuộc đời Hồ Xuân Hương. Đây là cuốn sách thứ ba của Nghiêm Thị Hằng viết về nữ sĩ, sau “Giải mã bí ẩn nữ sĩ Hồ Xuân Hương” (2021) và tiểu thuyết “Hồ Xuân Hương Tiếng vọng” (2022).
Nếu hai cuốn trước chủ yếu đi vào khảo cứu thân thế và các mối quan hệ của nữ sĩ, thì lần này trọng tâm được dồn vào dấu tích phần mộ. Tác phẩm vì thế mang màu sắc vừa khảo cổ học, vừa văn hóa học, vừa nhuốm vẻ huyền bí của một cuộc truy tìm lịch sử.
Điều đáng trân trọng là tác giả không cực đoan áp đặt kết luận, mà chủ yếu đưa ra các giả thiết có cơ sở khoa học. Chẳng hạn, giả thiết ông Trần Sài – cháu ruột Trần Phúc Hiển – đã bí mật đưa hài cốt Hồ Xuân Hương từ ven Hồ Tây (Hà Nội) về Tam Kỳ năm 1843; hay nho sĩ Trần Hòa là cháu ruột ông Trần Phúc Hiển, người xây dựng và để lại các “ký hiệu” liên kết giữa ba ngôi mộ cổ. Tất cả được xâu chuỗi dựa trên sử liệu triều Nguyễn, văn bia, sắc phong và lời kể dân gian địa phương.
Đặc biệt thú vị là cách lý giải ba chữ “Huỳnh Hoàn Nhân”. Theo tác giả, “Huỳnh” có thể là họ của mẹ Trần Phúc Hiển; “Hoàn Nhân” có thể hiểu là “người hoàn hảo họ Huỳnh” hoặc “người trả lại cho họ Huỳnh”. Dù chưa thể xem là kết luận cuối cùng, cách tiếp cận này cho thấy nỗ lực giải mã bằng ngôn ngữ Hán tự kết hợp phong tục mai táng cổ truyền có tính thuyết phục.
Có thể nói, giá trị lớn nhất của cuốn sách không nằm ở việc khẳng định tuyệt đối đâu là mộ thật của Hồ Xuân Hương, mà ở chỗ nó khơi dậy sự quan tâm của cấp có thẩm quyền và Hồ Xuân Hương công chúng đối với di sản văn hóa dân tộc. Hành trình tìm kiếm ấy đã buộc người đọc phải nhìn lại vị trí đặc biệt của Hồ Xuân Hương trong lịch sử văn học Việt Nam.
Là người phụ nữ sống trong xã hội phong kiến nhưng dám cất tiếng nói mạnh mẽ về nữ quyền, Hồ Xuân Hương trở thành hiện tượng độc đáo của thi ca dân tộc. Thơ bà không chỉ sắc sảo, trào lộng mà còn chứa tinh thần phản kháng mạnh mẽ đối với lễ giáo khắt khe. Chính vì vậy, việc UNESCO thông qua nghị quyết vinh danh Hồ Xuân Hương là Danh nhân văn hóa thế giới tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 41 năm 2021 là sự ghi nhận xứng đáng cho một tài năng vượt thời đại.
Đọc “Ảo mờ lăng mộ Hồ Xuân Hương”, người ta thấy rõ hơn khát vọng của tác giả Nghiêm Thị Hằng: Đưa cuộc đời và di sản của “Bà chúa thơ Nôm” ra khỏi màn sương huyền thoại để bước gần hơn tới ánh sáng của sự thật lịch sử.
Cuốn sách vì thế không chỉ là một tiểu thuyết tư liệu phi hư cấu hấp dẫn, mà còn là một công trình giàu tâm huyết, góp thêm tiếng nói trong hành trình bảo tồn và tôn vinh di sản Hồ Xuân Hương. Và như niềm tin mà tác giả gửi gắm, có lẽ từ “cõi ảo mờ”, sự thật về cuộc đời và nơi yên nghỉ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương rồi sẽ từng bước hiện ra rõ nét hơn trong nhận thức của hậu thế.
Việc tìm kiếm mộ phần nữ sĩ Hồ Xuân Hương không chỉ là công tác khảo cổ đơn thuần mà còn là nỗ lực tri ân một danh nhân văn hóa thế giới. Để dòng chảy lịch sử không bị ngắt quãng bởi những thủ tục hành chính, dư luận đang mong chờ một buổi làm việc trực tiếp, thực chất giữa nhóm nghiên cứu do Nghiêm Thị Hằng đại diện và lãnh đạo ngành văn hóa TP Đà Nẵng. Chỉ khi các rào cản về cơ chế được tháo gỡ, những tư liệu mới được thẩm định khách quan, thì hành trình tìm lại dấu tích "Bà chúa thơ Nôm" mới có thể đi đến hồi kết viên mãn.
Việc tháo gỡ các rào cản về thủ tục báo cáo khoa học của dự án “ Tìm phần mộ nữ sĩ Hồ Xuân Hương” chính là bước ngoặt quan trọng, mở ra hy vọng về một kết luận chính thức, trả lại đúng vị thế cho nơi yên nghỉ của một trong những nữ sĩ tài hoa nhất lịch sử văn học Việt Nam-Bà chúa thơ Nôm-Danh nhân văn hóa thế giới.
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã được UNESCO chính thức thông qua hồ sơ vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 41 (tháng 11/2021). UNESCO kỷ niệm 250 năm năm sinh (1772-2022) và 200 năm năm mất (1822-2022) của bà, khẳng định giá trị văn học và tư tưởng bình đẳng giới.
V.X.B
Vũ Xuân Bân