Bấy giờ, trời gần về sáng, có một Thiên tử dung sắc tuyệt đẹp đi đến chỗ Đức Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên. Ánh sáng trên thân Thiên tử tỏa chiếu khắp rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc.
Khi ấy, Thiên tử này dùng kệ hỏi:
Ngài có tông tộc không?
Có tộc nối dõi không?(2)
Có thân thuộc gì không?
Làm sao để giải thoát?
Thế Tôn nói kệ đáp:
Ta không có tông tộc,
Cũng không tộc nối dõi,
Dứt hẳn các thân thuộc,
Giải thoát mọi buộc ràng.
Lúc đó, Thiên tử lại dùng kệ hỏi:
Sao gọi là tông tộc?
Tộc nối dõi là ai?
Thế nào là thân thuộc?
Buộc chặt nghĩa là sao?
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Mẹ chính là tông tộc,
Vợ là tộc nối dõi,
Con cái là thân thuộc,
Ái dục là trói buộc.
Ta không tông tộc này,
Cũng không tộc nối dõi,
Và thân thuộc cũng không,
Nên không còn trói buộc.
Thiên tử lại nói kệ:
Lành thay không tông tộc,
Cũng không tộc nối dõi,
Lành thay không thân thuộc,
Lành thay thoát buộc ràng.
Từ lâu vốn biết Phật,
Đã được Bát-niết-bàn,
Mọi sợ hãi không còn,
Dứt ân ái thế gian.
Đức Phật nói kinh này, Thiên tử kia nghe Phật dạy xong, hoan hỷ tùy hỷ, đảnh lễ sát chân Phật rồi biến mất.
----------------------
(1)Tựa đề đặt theo nội dung kinh. Tạp. 雜 (T.02. 0099.584. 0155b05). Tham chiếu: Biệt Tạp. 別雜 (T.02. 0100.168. 0436b02); S.1.19 - I.8.
(2)Nguyên tác Tộc bản (族本): Gia tộc. S.1.19 - I.17: Kacci te kutịkā natthi, kacci natthi kulāvaka kacci santānakā natthi, kacci muttosi bandhanā’ti (Ngài không có chòi tranh, Ngài không có tổ ấm, Ngài không có con cháu, Ngài thoát mọi ràng buộc). Bản Hán đọc kula (gia tộc); S.1.19 - I.17 đọc kutịkā, (chòi tranh); Biệt Tạp. 別雜 (T.02. 0100.168. 0436b06) đọc là gông cùm (杻).
(NSGN - 358)
Trung tâm Trí Tịnh dịch/Nguyệt san Giác Ngộ