Giám đốc Bệnh viện Việt Đức: Đỉnh cao kỹ thuật ghép tạng, giữ trọn cốt cách nhân văn

Giám đốc Bệnh viện Việt Đức: Đỉnh cao kỹ thuật ghép tạng, giữ trọn cốt cách nhân văn
2 giờ trướcBài gốc
Tại Lễ trao giải Nhân tài Đất Việt 2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được xướng tên ở hạng mục cao nhất lĩnh vực y dược với công trình “Triển khai ghép đa tạng từ người hiến chết não” do PGS.TS Dương Đức Hùng, Giám đốc bệnh viện, cùng cộng sự thực hiện.
Giải thưởng danh giá này không chỉ ghi nhận một thành tựu chuyên môn xuất sắc, mà còn là dấu mốc mới của y học Việt Nam trên bản đồ thế giới. Nhưng vượt lên trên những con số và kỹ thuật, giá trị lớn nhất của công trình nằm ở chiều sâu nhân văn. Mỗi ca ghép thành công không những là chiến thắng của khoa học mà còn là một cuộc hồi sinh kỳ diệu, nơi sự sống được tiếp nối từ nghĩa cử cao đẹp của người hiến tạng, trao thêm hy vọng cho nhiều bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đang đứng giữa lằn ranh sinh tử.
Trong cuộc trò chuyện cởi mở với TheLEADER đầu Xuân Bính Ngọ, bác sĩ Dương Đức Hùng chia sẻ về hành trình đầy thử thách nhưng thấm đẫm tinh thần nhân ái ấy. Đó là câu chuyện của những quyết định chính xác đến từng phút giây, của áp lực khôn cùng trong phòng mổ, và trên hết là triết lý “từ tâm”, kim chỉ nam của người thầy thuốc khi đối diện với sự sống và cái chết.
PGS.TS.BS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Việt Đức. Ảnh: Bống Vũ
Người mang "cuộc sống" trở lại phía sau cánh cửa thép
Thưa bác sĩ, công trình ghép đa tạng vừa được nhận giải thưởng lớn của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức không chỉ là một thành tựu khoa học mà còn được nhắc đến như một hành trình đầy nhân văn. Trong ký ức của một người trực tiếp triển khai và phẫu thuật, khoảnh khắc nào đã để lại trong ông sự xúc động nhất?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Y học có những giới hạn nghiệt ngã. Khi mọi nỗ lực hồi sức trở nên vô hiệu, một sự ra đi có thể mở đầu cho những cuộc đời mới.
Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh một bà mẹ có con trai 21 tuổi bị tai nạn dẫn đến chết não. Giây phút người mẹ ấy cúi xuống hôn lên trán con trai mình lần cuối, trước khi cánh cửa phòng mổ đóng sập lại, đó là khoảnh khắc của tận cùng tuyệt vọng, nhưng cũng là sự cao cả đến nghẹn lòng.
Về bản chất, ghép tạng là thay thế một cơ quan đã hỏng hoàn toàn bằng một cơ quan khác khi chúng không còn khả năng hồi phục, không còn phương pháp điều trị nào hiệu quả hơn.
Chẳng hạn, một quả tim suy đến mức không thể sửa chữa, thuốc trợ tim không còn tác dụng, khi tim ngừng đập, sự sống cũng chấm dứt. Muốn tiếp tục sống, buộc phải thay tim.
Nhưng muốn ghép tạng thì phải có nguồn tạng. Với những cơ quan có hai như thận, người cho có thể là người sống, thường là những người có quan hệ huyết thống gần như bố mẹ, anh chị em ruột. Tuy nhiên, với những cơ quan chỉ có một, như tim thì không thể, mà phải lấy từ người cho chết não, tức là những người tổn thương não không thể hồi phục, nhưng các cơ quan khác vẫn còn hoạt động tốt.
Với người trong gia đình, nhiều khi không cần thuyết phục, tình thân khiến họ tự nguyện cho đi. Nhưng với người chết não, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Trong bối cảnh gia đình đang hết sức đau buồn, việc giải thích để họ hiểu và đưa ra quyết định hiến tạng là rất khó khăn. Chỉ một chút thiếu tinh tế cũng có thể khiến sự việc trở nên phản cảm.
Chính vì vậy, số ca hiến tạng từ người chết não trong nhiều năm qua rất hạn chế. Có năm, Bệnh viện Việt Đức chỉ thực hiện được hai ca. Theo ước tính, trong 13 năm, từ năm 2010 đến 2023, cả nước mới có 100 ca hiến tạng. Tuy nhiên, chỉ trong hai năm qua, riêng tại Việt Đức đã có 50 ca hiến tạng.
Đặc biệt, năm 2025, Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện số lượng trường hợp lấy và ghép đa tạng từ người hiến chết não cao nhất từ trước đến nay.
Điều gì đã tạo nên sự chuyển biến về số lượng người hiến tạng tại Việt Đức trong những năm gần đây như vậy, thưa ông?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Đó là cả một quá trình, một chuỗi những nỗ lực rất lớn của nhiều người ngồi lại với nhau và cùng tìm cách thay đổi.
Bước ngoặt quan trọng có lẽ đến từ cách làm truyền thông để mọi người hiểu về ghép tạng và ý nghĩa của việc làm này, khi trao đi cơ hội sống lần hai cho người bệnh. Sự thuyết phục không đến từ những lời kêu gọi khô cứng mà đi từ những câu chuyện "người thật, việc thật" bình dị, bằng tất cả trải nghiệm của người trong cuộc, chạm đến trái tim, cảm xúc thực sự của mọi người.
Chúng tôi không thể chờ đến lúc "có chuyện", mới giải thích, vận động các gia đình tham gia hiến tạng một cách đơn lẻ, mà phải giúp cộng đồng có sự nhận thức từ trước. Khi người dân đã hiểu một cách rõ ràng, quyết định của họ trong những thời khắc khó khăn ấy sẽ bớt nặng nề hơn rất nhiều.
Và một điều rất may mắn đối với chúng tôi là khi người dân thực sự hiểu, họ có sự đồng cảm và ủng hộ. Có những người dân ở tận Mù Cang Chải đã chủ động liên hệ về bệnh viện để bày tỏ nguyện vọng hiến tạng. Điều đó thực sự khiến chúng tôi xúc động.
Bác sĩ Dương Đức Hùng và các cộng sự trong một ca phẫu thuật ghép tạng tại Bệnh viện Việt Đức. Ảnh: Bống Vũ
Mệnh lệnh từ "trái tim"
Bên cạnh vai trò của truyền thông, yếu tố cốt lõi nào đã làm nên thành công của Bệnh viện Việt Đức trong hành trình mang lại sự sống cho người bệnh này, thưa ông?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Yếu tố cốt lõi có lẽ nằm ở con người, ở sự dấn thân và tinh thần tự nguyện.
Không ai bắt chúng tôi phải làm những việc đó. Không có một mệnh lệnh hành chính nào buộc một bác sĩ phải đứng trong phòng mổ suốt bảy tiếng đồng hồ giữa đêm để thực hiện một ca lấy - ghép tạng. Cũng không ai ép buộc các điều phối viên phải đi lại, thuyết phục, trao đổi nhiều lần với gia đình người bệnh trong những hoàn cảnh vô cùng nhạy cảm.
Để có được 20 người hiến tạng trong năm 2024, đội ngũ của chúng tôi đã phải tiếp cận 741 trường hợp. Có những gia đình gặp trao đổi bốn lần, có trường hợp phải thuyết phục tới tám lần. Cuối cùng, chỉ 26 gia đình đồng ý, và trong số đó, điều kiện y khoa chỉ cho phép thực hiện lấy tạng ở 20 trường hợp.
Đằng sau những con số ấy là khối lượng công sức khổng lồ, cả về thời gian, lẫn áp lực. Và tất cả đều không gắn với bất kỳ lợi ích cá nhân nào của người làm nghề.
Vì vậy, nếu phải nói đến một yếu tố cốt lõi, tôi cho rằng đó là từ "tâm”. Công việc này quá vất vả, quá nhạy cảm để có thể vận hành bằng mệnh lệnh hay bằng phép tính thiệt - hơn, nó không thể mang ra cân đong đo đếm. Những gì giữ chân chúng tôi ở lại với công việc này là niềm tin rằng mình đang góp phần nối dài sự sống.
Và chính tinh thần ấy mới là nền tảng bền vững nhất cho những thành công của Việt Đức trong việc ghép tạng mà chúng tôi đạt được trong thời gian qua.
Phóng viên: Được biết, kỹ thuật ghép tạng, đặc biệt là ghép đa tạng tại Việt Đức hiện nay đã có những bước tiến vượt bậc, khiến cả thế giới nể phục. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về sự thay đổi này?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Ghép tạng là kỹ thuật Việt Nam học từ nước ngoài. Những quy trình nền tảng đều được xây dựng sẵn tại các nước phát triển để mang về áp dụng tại Việt Nam.
Ở giai đoạn đầu, chúng tôi nghiên cứu, tiếp nhận và làm đúng theo quy trình đã được chuẩn hóa của thế giới. Nhưng khi đã làm chủ được kỹ thuật, câu chuyện không còn là “làm theo” nữa mà là “cải tiến để phù hợp hơn”.
Trước đây, một ca ghép có thể kéo dài 15–20 tiếng, áp lực vô cùng nặng nề với cả ê-kíp. Đối với người bệnh, đây cũng là một hành trình đầy thách thức bởi thời gian dài, nguy cơ biến chứng cao, hồi phục chậm.
Tuy nhiên, hiện nay, nhờ những điều chỉnh về kỹ thuật và quy trình, thời gian ghép đã được rút ngắn xuống còn khoảng 6 - 7 tiếng trong nhiều trường hợp. Điều này đã tạo ra sự thay đổi rất lớn: bệnh nhân hồi phục nhanh hơn, biến chứng giảm, chi phí điều trị ngắn lại, quan trọng hơn là có thể mở rộng cơ hội cứu sống thêm nhiều người. Đó là bước đột phá thực sự giúp rút ngắn thời gian và tối ưu hiệu quả.
Tôi còn nhớ khi sang Đài Loan trao đổi chuyên môn với các giáo sư từng hỗ trợ ca ghép gan đầu tiên cho Việt Nam - có thể coi họ là “thầy” của mình - về quy trình hiện tại của Việt Đức và họ đã thực sự bất ngờ và đề nghị sẽ sang Việt Nam để học hỏi.
Khoảnh khắc ấy đánh dấu một sự chuyển vị thế từ người đi học thành người chia sẻ lại kinh nghiệm. Tại các hội nghị quốc tế trước đây, chúng ta thường khá khiêm tốn, ít tiếng nói. Nhưng khi có kết quả cụ thể, thì các đồng nghiệp quốc tế bắt đầu đặt câu hỏi, bắt đầu trao đổi sâu, thậm chí chủ động liên hệ hợp tác.
Đặc biệt, ở lĩnh vực ghép đa tạng, như ghép tim - thận, gan - thận, chúng tôi đã thực hiện thành công những ca ở mức độ khó rất cao, có những trường hợp lần đầu tiên được triển khai thành công trên thế giới. Đó là những bài toán mà ngay cả nhiều quốc gia phát triển trên thế giới vẫn đang tìm lời giải.
Với chúng tôi, điều tự hào không chỉ là kỹ thuật y khoa hay vị thế chuyên môn, mà là việc mang lại cơ hội được cứu chữa cho nhiều bệnh nhân đang đứng trước ngưỡng cửa sinh - tử.
Trong hành trình đầy gian gian, thách thức nhưng cũng vô cùng tự hào ấy, điều gì đã khiến ông trăn trở và thôi thúc ông phải làm đến cùng để đạt được những thành tựu như vậy?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Trước hết là nhu cầu của xã hội. Nếu không ghép tạng thì bệnh nhân sẽ không còn cơ hội sống. Thế giới đã làm được từ lâu, vậy tại sao mình không làm?
Đứng trước người bệnh, câu hỏi mà những người y bác sĩ như chúng tôi luôn đặt ra là: "Nếu mình không làm, họ sẽ mất cơ hội cuối cùng". Sự thôi thúc ấy đến từ trách nhiệm nghề nghiệp, nhưng sâu xa hơn là từ niềm tin rằng y học phải đi đến tận cùng khả năng giành lại sự sống cho người bệnh.
Đó vừa là áp lực, vừa là động lực để chúng tôi không dừng lại.
Thứ hai là năng lực chuyên môn. Trình độ của bác sĩ Việt Nam đang ngày càng được nâng cao. Chúng tôi luôn không ngừng học hỏi, nghiên cứu với một mong muốn lớn nhất là áp dụng những công nghệ, kỹ thuật y khoa tốt nhất để phục vụ chính người dân của đất nước mình.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh hiện nay, khi các trang thiết bị y tế được đầu tư tốt hơn, sự phát triển của y học là điều tất yếu.
Bác sĩ Dương Đức Hùng: Y học phải đi đến tận cùng khả năng giành lại sự sống cho người bệnh. Ảnh: Bống Vũ.
Phụng sự an sinh xã hội bằng tâm huyết "tất cả vì người bệnh"
Bên cạnh chất lượng khám chữa bệnh, là một bệnh viện công trong bối cảnh các bệnh viện tư hiện nay đang đẩy mạnh đầu tư vào chất lượng dịch vụ, hệ thống buồng, phòng chăm sóc bệnh nhân, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức có chiến lược gì để thích ứng, thưa ông?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Trong dịch vụ y tế có hai phần: chuyên môn điều trị và phần “dịch vụ đi kèm” như phòng ốc, tiện nghi, thái độ phục vụ, không gian riêng tư…
Với bệnh viện công, điểm yếu thường nằm ở phần sau. Không phải chúng tôi không hiểu điều đó, mà chúng tôi phải cân nhắc giữa nguồn lực và sứ mệnh.
Dịch vụ tốt thường đi kèm chi phí cao, và phần đông người bệnh hiện nay không đủ khả năng chi trả cho mô hình phòng bệnh chất lượng "5 sao". Thay vào đó, họ mong muốn mức chi phí khám chữa bệnh ở mức phù hợp.
Với một diện tích 100m2, chúng tôi hoàn toàn có thể xây năm phòng cao cấp, phục vụ năm người bệnh với chi phí rất cao. Tuy nhiên, chúng tôi không làm việc đó, mà lựa chọn chia thành nhiều phòng nhỏ hơn để phục vụ 20 người, giúp nhiều người bệnh có nơi điều trị hơn.
Có những cơ sở y tế lựa chọn khách hàng có khả năng chi trả cao để tăng lợi nhuận, họ coi bệnh viện là một phân khúc kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng với bệnh viện công, chúng tôi có một vai trò khác: đảm bảo an sinh xã hội. Đối tượng phục vụ chính của bệnh viện công là người dân bình thường, người thu nhập trung bình, thậm chí là người nghèo.
Nguồn lực nếu chia đều cho số đông sẽ tạo ra giá trị xã hội lớn hơn là tập trung vào một nhóm nhỏ. Có những khoản đầu tư rất đắt tiền nhưng chưa chắc phù hợp với nhu cầu thực tế của đại đa số người bệnh.
Bên cạnh đó, khi đến bệnh viện, điều đầu tiên người bệnh cần là khỏi bệnh. Tính chuyên nghiệp trong y khoa trước hết nằm ở năng lực chuyên môn. Với Việt Đức, điều đó luôn được chúng tôi đặt lên hàng đầu.
Nói như vậy không có nghĩa bệnh viện công không nâng cao chất lượng dịch vụ. Chúng tôi vẫn đang từng bước cải thiện quy trình khám chữa bệnh, tăng tính chuyên nghiệp, nâng cao thái độ phục vụ, đầu tư trang thiết bị. Tuy nhiên, trọng tâm của chúng tôi vẫn là đảm bảo điều trị hiệu quả cho bệnh nhân với chi phí hợp lý nhất có thể.
Khi các bệnh viện tư tìm cách thu hút bác sĩ giỏi, Bệnh viện Việt Đức làm gì để giữ chân nhân tài?
PGS.TS Dương Đức Hùng: Thực ra, tôi không “giữ” ai theo ý nghĩa bằng mệnh lệnh hành chính.
Với thị trường lao động, đặc biệt là nhân lực kỹ thuật cao, việc dịch chuyển là chuyện bình thường. Nhiều nơi cố giữ người bằng mệnh lệnh hành chính. Nhưng tôi cho rằng có thể giữ được con người bằng thủ tục, chứ không giữ được cái tâm. Khi tâm đã không còn ở lại, sự tận tụy và nhiệt huyết cũng khó trọn vẹn.
Do đó, ở Việt Đức, điều chúng tôi cố gắng xây dựng không phải là rào cản, mà là môi trường khiến nhân sự muốn ở lại: sự công bằng, minh bạch, cơ hội học tập, nghiên cứu, tham gia các hội nghị quốc tế, phát triển chuyên môn. Ở đây, bác sĩ không chỉ là “thợ mổ”, mà còn có cơ hội làm khoa học, đào tạo, nâng cao năng lực. Nếu môi trường làm việc đủ tốt, họ sẽ so sánh và tự có câu trả lời.
Quan trọng hơn, tôi không nhìn sự ra đi của nhân sự thuần túy ở góc độ “mất người”. Nếu họ vẫn tiếp tục làm nghề, tiếp tục lan tỏa những giá trị tốt đẹp, thì xét ở quy mô ngành và xã hội, đó là điều tích cực. Điều đáng lo nhất không phải là bác sĩ chuyển viện, mà là họ bỏ nghề vì cảm thấy ngành y không còn xứng đáng để gắn bó.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển và phồn vinh của một quốc gia ngoài tăng trưởng kinh tế, xuất nhập khẩu hay thu nhập, còn có các chỉ số về an sinh xã hội, trong đó có chất lượng y tế, dịch vụ khám chữa bệnh... những người làm trong ngành y như chúng tôi luôn tâm huyết, nỗ lực hết mình, góp phần vào sự phồn vinh cho đất nước, vì cuộc sống của người dân!
Xin cảm ơn ông!
Thu Phương
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/giam-doc-benh-vien-viet-duc-dinh-cao-ky-thuat-ghep-tang-giu-tron-cot-cach-nhan-van-d44446.html