Giảm phát thải nông nghiệp, thủy sản bằng công nghệ sinh học hướng tới phát triển xanh

Giảm phát thải nông nghiệp, thủy sản bằng công nghệ sinh học hướng tới phát triển xanh
một giờ trướcBài gốc
Áp lực phát thải và yêu cầu chuyển đổi trong nông nghiệp, thủy sản
ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, đóng góp lớn vào an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, đi cùng với quy mô sản xuất lớn là áp lực phát thải khí nhà kính và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Theo số liệu thống kê, mỗi năm khu vực này phát sinh khoảng 62 triệu tấn chất thải rắn và 300 triệu tấn chất thải lỏng từ hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi. Đây là nguồn phát thải đáng kể, đặc biệt là khí methane – loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp nhiều lần so với CO₂.
Những chất thải từ nông nghiệp. Ảnh: Đ.H.C.T
Trong bài viết: “Giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản hướng tới phát triển xanh”, PGS. TS. Trần Sỹ Nam – Đại học Cần Thơ nhấn mạnh rằng việc quản lý và xử lý chất thải nông nghiệp là chìa khóa để giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong khi đó, Ông Nguyễn Tấn Tuấn – Công ty TBKT DTP (Tuấn Biogas) cho rằng, nếu tận dụng tốt nguồn chất thải hữu cơ, nông nghiệp không chỉ giảm ô nhiễm mà còn tạo ra giá trị kinh tế mới thông qua năng lượng tái tạo .
Trước bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, ngành nông nghiệp và thủy sản cần chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn và ít phát thải. Đây không chỉ là yêu cầu từ chính sách mà còn là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Công nghệ biogas – giải pháp trọng tâm trong giảm phát thải
Một trong những giải pháp hiệu quả được đề cập là ứng dụng công nghệ phân hủy kỵ khí (anaerobic digestion – AD) để xử lý chất thải hữu cơ. Đây là quá trình phân hủy vật chất hữu cơ trong điều kiện không có oxy, diễn ra qua bốn giai đoạn: thủy phân, lên men axit, tạo axetat và sinh methane. Kết quả của quá trình này là khí sinh học (biogas), bao gồm chủ yếu methane và CO₂, có thể sử dụng làm nhiên liệu.
PGS. TS. Trần Sỹ Nam cho biết, công nghệ biogas đã được ứng dụng tại Việt Nam từ những năm 1960 và ngày càng phát triển với nhiều mô hình khác nhau, từ quy mô hộ gia đình đến trang trại lớn. Các loại hầm biogas như PE, composite hay các hệ thống cải tiến hiện nay đều cho thấy hiệu quả cao trong xử lý chất thải và thu hồi năng lượng.
Biogas mang lại nhiều lợi ích đồng thời. Thứ nhất, giúp giảm phát thải khí methane trực tiếp ra môi trường. Thứ hai, tạo nguồn năng lượng tái tạo phục vụ đun nấu, phát điện và sưởi ấm. Thứ ba, bùn thải sau xử lý có thể sử dụng làm phân bón hữu cơ, góp phần giảm phụ thuộc vào phân bón hóa học. Nhờ đó, mô hình này không chỉ giảm ô nhiễm mà còn thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.
Những cách xử lý biogas thông thường ở ĐBSCL. Ảnh: Đ.H.C.T
Ông Nguyễn Tấn Tuấn nhấn mạnh rằng, việc phát triển các mô hình biogas phù hợp với từng quy mô sản xuất là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả. Đối với nông hộ nhỏ, các hệ thống đơn giản, chi phí thấp có thể đáp ứng nhu cầu cơ bản. Trong khi đó, các trang trại lớn cần hệ thống công nghệ cao, có khả năng kết nối với lưới điện và tối ưu hóa sản lượng khí sinh học.
Tích hợp giải pháp công nghệ trong nông nghiệp và thủy sản
Bên cạnh biogas, việc tích hợp các giải pháp công nghệ khác cũng đóng vai trò quan trọng trong giảm phát thải. Trong trồng trọt, các phương pháp canh tác tiết kiệm nước, giảm phân bón hóa học và sử dụng chế phẩm sinh học giúp hạn chế phát thải khí nhà kính và cải thiện chất lượng đất.
Xử lý biogas quy mô trang trại. Ảnh: Đ.H.C.T
Trong lĩnh vực thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm siêu thâm canh, việc xử lý nước thải và chất thải hữu cơ là thách thức lớn. Các mô hình biogas kết hợp xử lý chất thải từ ao nuôi không chỉ giảm ô nhiễm mà còn tạo ra nguồn năng lượng phục vụ sản xuất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chi phí năng lượng ngày càng tăng và yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe.
Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ số như IoT, trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát môi trường và quản lý sản xuất cũng góp phần giảm phát thải gián tiếp. Các hệ thống cảm biến giúp theo dõi chất lượng nước, độ ẩm đất, từ đó tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm lãng phí.
Đáng chú ý, sự tham gia của các doanh nghiệp và startup công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp đang tạo ra nhiều giải pháp sáng tạo. Những sáng kiến này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế về tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Xử lý biogas quy mô công nghiệp. Ảnh: ĐH.C.T
Hướng tới hệ sinh thái nông nghiệp xanh và bền vững
Để đạt được mục tiêu giảm phát thải, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách, công nghệ và nguồn lực con người. Trước hết, cần hoàn thiện khung chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp xanh, bao gồm ưu đãi tín dụng, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng tiêu chuẩn môi trường phù hợp.
Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về lợi ích của giảm phát thải là yếu tố quan trọng. Khi người sản xuất hiểu rõ giá trị kinh tế và môi trường của các giải pháp xanh, họ sẽ chủ động áp dụng và nhân rộng mô hình.
Đặc biệt, vai trò của khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao là không thể thiếu. Các chương trình đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cần được đẩy mạnh để tạo ra những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của ĐBSCL.
PGS. TS. Trần Sỹ Nam khẳng định rằng, giảm phát thải không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại và bền vững. Khi các giải pháp công nghệ được triển khai đồng bộ, nông nghiệp không chỉ giảm tác động tiêu cực đến môi trường mà còn trở thành ngành kinh tế xanh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng quốc gia.
Giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp và thủy sản là xu hướng tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Với sự hỗ trợ của công nghệ, đặc biệt là biogas và các giải pháp sinh học, ĐBSCL có thể chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh, tuần hoàn và bền vững.
Biogas phát điện. Đ.H.C.T
Sự tham gia của các nhà khoa học như PGS. TS. Trần Sỹ Nam và doanh nghiệp như ông Nguyễn Tấn Tuấn cho thấy vai trò quan trọng của liên kết đa ngành trong thúc đẩy đổi mới. Khi khoa học, công nghệ và thực tiễn sản xuất được kết nối, những giải pháp hiệu quả sẽ được hình thành và nhân rộng.
Trong tương lai, việc phát triển nông nghiệp xanh không chỉ giúp giảm phát thải mà còn mở ra cơ hội nâng cao giá trị sản phẩm, cải thiện sinh kế và bảo vệ môi trường. Đây chính là con đường để ĐBSCL phát triển bền vững và thích ứng với những thách thức toàn cầu.
Văn Kim Khanh
Nguồn Một Thế Giới : https://1thegioi.vn/giam-phat-thai-nong-nghiep-thuy-san-bang-cong-nghe-sinh-hoc-huong-toi-phat-trien-xanh-251250.html