Nhà sách Nam Ngãi xưa, bây giờ là tiệm thuốc
“Chân trời cũ”
Cửa xanh một cánh, lại có tấm bảng con kẻ chữ “sách cũ, mới”, nằm ngang, lạnh như dòng đề từ trên trang sách diễm tình với ruột gió u hoài mãi thổi. Cửa khóa. Tôi quay lui. Chị đầu hẻm nói: “Không, anh tới đó rẽ trái, gặp cửa màu đỏ, là nhà ổng”. Lộn trở lại, đến nơi tôi gõ cửa. Một cô gái hiện ra: “Chú mua sách?”.
Tôi như ngạt thở. Ông không có nhà. Căn phòng chừng 30m2, thấp lè tè. Sách, chỗ nằm, chen nhau. Ở đây sách là chủ chứ không phải người. Mảng, mục nào, đối tượng nào… đâu ra đó. Như thể chủ nhân bày trò sắp đặt, để mỗi loại đều có… chiếu riêng, để linh hồn và hơi thở nó tự do bay lượn.
Sách vở, xưa thường gắn với văn nhân. Nhưng nay, tôi quen vài người chơi sách, dù họ ngành nghề chẳng dính văn chương, nhưng thảy đều mê chữ. Chữ trong sách. Mỗi người một vẻ, nhưng đều gặp nhau ở chỗ “lụy” sách.
Cái sự… lụy này, chiết tự nó ra, có khi viết được một tùy bút chứ chẳng chơi. Vợ ông nói, hồi trước ông học Văn khoa Sài Gòn, Luật khoa, tinh thông tiếng Anh - Pháp, cũng vì mê sách mà “lụy” tới giờ, cuốn cả vợ con theo. Thiên hạ nói sách ông có chừng 30 ngàn, lúc nói 70 ngàn cuốn.
Sách, như… núi cột định mệnh đời ông, làm đủ thứ nghề, cuối cùng quay về với sách. Thôi thì khỏi bàn chuyện ông đi tìm, đổi, sưu tầm, mua, cả những nghẹn ngào buồn vui của nghề. Có lẽ với ông hay những người chơi sách, mê sách, những trang sách luôn có tiếng nói âm thầm, giữ họ lại trong cuộc đối thoại vô tận, nên nào dễ quay lưng.
Tôi hỏi vợ ông, rằng người ta đến mua bán, giao lưu có nhiều không, mà thật ra ý ngầm là tôi ái ngại cho “nhà tù” sách này, ai đời một tên tuổi cả Đà Nẵng phong là “ông hoàng” mà nhốt ngay chỗ cùng đường, kẹt đứng, đi ngược chiều thì phải nép sát tường?!
Giọng chị đượm buồn: “Hồi đó bán được lắm, khách Tây tới cũng nhiều. Không phải bán ở đây đâu, mà là có đại lý ở đường Hàm Nghi, vừa bán báo vừa bán sách. Đến 2020, chỗ đó không được bán nữa, nên gia đình phải về đây. Chừ thì lai rai rứa”. Giọng chị như rơi, rồi vỡ ra trên kệ sách.
Một góc đọc sách ở Hội An hiện tại. Ảnh: Lê Trọng Khang
Tôi nghe, như thấy ở gáy sách mỏng dày, những đôi mắt như tra vấn mình. Hồi đó, những năm đầu thập niên 90, ở đường Bạch Đằng, quầy sách báo khá nhiều, rồi những nơi khác nữa. Tất cả dần mất đi. Bây giờ thành phố có không ít nhà sách lớn, những địa chỉ đọc sách, rồi hội sách thường niên, nhưng như lối đi về xao xác của chiếc bóng “Chân trời cũ”, những tiệm sách cũ vẫn không chứa chan trong lòng những tần ngần xao xác.
Cũ hay mới, đều là sách. Và với người đọc, một trang sách cũ, một dòng đề từ, một chữ ký xa lạ nào đó, cả cú “lụy tim” khi đọc mà nức nở nên bèn ghi ngay trong trang đó, vô tình đọc được, nói như Bùi Giáng là như “Làm thơ chỉ là một cách dìu ba đào về chân trời khác”. Chân trời khác đó là gì, chỉ người chơi sách và kẻ mê sách mới tường mới thấu mới lụy như làm thơ với ba đào dông gió sóng bể.
Tôi nói một mình giữa ngổn ngang xanh đỏ tím vàng dày mỏng bìa cứng bìa mềm: “Biết đến khi nào, sự hiện diện của tàng thư cũ mới ngút ngàn này, có một chỗ đàng hoàng để bạn đọc thỏa sức ngắm, đọc?”. Vợ ông nhìn tôi, im lặng, hình như cố nén tiếng thở dài.
Câu chuyện Nam Ngãi
Những cơn gió mùa xa trên những bảng hiệu sách một thuở, giờ đi hoang đã gần hết. Bữa ngồi với anh Nguyễn Đăng Chín tại Tam Kỳ, dẫu biết anh chẳng nỡ chối từ tôi, nhưng cũng hơi nghẹn khi anh chậm rãi, là thôi em, nhắc làm chi nữa. Anh Chín, một thời gian dài là kỹ thuật morat ở báo Quảng Nam, nhưng thâm tình lâu tôi mới biết, cái tên ngã ba Nam Ngãi ở Tam Kỳ, là lát cắt phần đời gia đình anh: Nhà sách Nam Ngãi.
Nhà sách Nam Ngãi ở Tam Kỳ trước năm 1975
Có lần về Hội An, tôi ngỡ ngàng khi thấy ở ngôi nhà số 93 Trần Phú, trên vách có dòng chữ Nhà in Nam Ngãi. Lời anh Chín, rằng, những năm 1956 - 1957, những người con từ Quảng Ngãi ra phố Hội lập nghiệp, mang theo vốn liếng là tay nghề in typo điêu luyện và một chút tiền gom góp của người thân. Họ rủ nhau mở nhà in ngay trên đường Cường Để (Trần Phú ngày nay), dùng những con chữ chì đúc thủ công để tạo nên hình hài cho sách báo.
Nhưng hành trình của Nam Ngãi chỉ thực sự trở thành huyền thoại khi rẽ lối về Tam Kỳ vào những năm 1960. Trên con đường Phan Châu Trinh huyết mạch, những người anh em Nguyễn Đăng Toản và Nguyễn Đăng Lạng (hai anh ruột của anh Chín) đã đặt viên gạch đầu tiên cho ngành công nghiệp in ấn và phát hành sách tại đây.
Năm 1962, nhà sách Nam Ngãi mọc lên bề thế tại ngã ba quốc lộ 1A và đường Trần Cao Vân. Sức ảnh hưởng của nó mạnh mẽ đến mức người dân quên bẵng cái tên “ngã ba thầy Phùng” vốn có, mà gọi chết danh là ngã ba Nam Ngãi.
Tại đây, một mô hình vận hành chuyên nghiệp đến kinh ngạc đã ra đời. Tri thức lúc bấy giờ đi theo con đường “nhật báo”. Hễ máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng, những chiếc Honda 68 “xoáy xi lanh” của nhà sách đã túc trực sẵn, chở những chồng báo còn thơm mùi mực như Điện Tín, Đuốc Nhà Nam, Sóng Thần, Chính Luận lao như bay về Tam Kỳ.
Nhờ sự thần tốc ấy, Nam Ngãi luôn là nơi có thông tin sớm nhất, mới nhất, khiến các nhà sách khác không thể cạnh tranh nổi. Giá trị của Nam Ngãi không chỉ nằm ở những kho sách lưu trữ đồ sộ, mà ở cái “văn hóa Khai Trí” được thẩm thấu sâu sắc: hòa nhã, niềm nở, và bao dung.
Nam Ngãi đón những cô cậu học trò nghèo vào đọc “cọp” cả ngày mà không hề xua đuổi. Họ mời những thầy giáo đến uống trà, đàm đạo về những bộ sách giáo khoa mới xuất bản từ Sài Gòn. Giữa vùng đất “xôi đậu” bom đạn mịt mù, Nam Ngãi chính là chiếc cầu nối đưa người dân tỉnh lẻ chạm vào “thế giới tinh hoa”, giúp họ bồi đắp tri thức để đủ sức đi tiếp trên hành trình gian khó của cuộc đời…
Những bảng hiệu đã mục, đã sờn, đã mòn theo con gió bao mùa. Nhưng, trong dòng chảy cuồn cuộn của thời gian, có những cái tên đã hóa thành “chết danh” cho một vùng đất, và có những cuộc đời tự nguyện tan chảy vào từng trang giấy cũ để giữ lại chút “huyết tương” tri thức cho đời.
Hai câu chuyện, hai địa danh, hai thời đại, nhưng cùng chung một mạch ngầm văn hóa: đó là lòng hàm ơn và sự tôn thờ tri thức. Nam Ngãi nay đã thành nhà thuốc “Nam Ngãi Tân”, nhưng cái tên ấy vẫn là một tọa độ ký ức, một dấu mốc không thể xóa mờ trong tâm thức nhiều thế hệ dân Tam Kỳ.
Còn ông Thông, ở tuổi bát thập, vẫn miệt mài trong căn phòng bật điện ban ngày, tỉ mẩn sắp xếp lại những đứa con tinh thần để chờ đợi tâm hồn đồng điệu tìm đến. Nó giống như gác chuông của tri thức, tâm hồn, dư vang sẽ mãi đọng theo tháng năm, mà từ đó, thiên đường, nếu có thật, hẳn sẽ giống như một thư viện - nơi người ta bước vào với lòng trân trọng và bước ra với một tâm thế vững vàng. Nó như cánh chim chở gió không chút mỏi mòn, dẫu mai này chỉ là hoài niệm.
LÊ TRUNG VIỆT