Lấp đầy nhanh nhưng đối mặt nhiều điểm nghẽn
Theo báo cáo của Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Hà Nội, đến tháng 2/2026, thành phố đang quản lý 2 khu công nghệ cao, 1 khu công viên công nghệ thông tin và 24 khu công nghiệp (KCN). Trong đó, 9 KCN đã đi vào hoạt động với tỷ lệ lấp đầy gần 100%, thu hút tổng cộng 999 dự án còn hiệu lực, tạo việc làm cho khoảng 200.000 lao động.
Định hình thế hệ khu công nghiệp mới thông minh, bền vững, gắn liền với giá trị nhân văn. Ảnh minh họa
Đáng chú ý, Khu công nghệ cao Hòa Lạc đã giải phóng mặt bằng đạt hơn 93%, thu hút 115 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 171.000 tỷ đồng. Việc khởi công Nhà máy sản xuất linh kiện bán dẫn Viettel đầu năm 2026 được kỳ vọng tạo cú hích hình thành cụm công nghiệp bán dẫn - điện tử.
Tuy nhiên, phía sau bức tranh tăng trưởng là hàng loạt điểm nghẽn. Phần lớn KCN được hình thành từ hơn 20 năm trước, hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ, nhiều nhà xưởng xuống cấp, chưa đáp ứng tiêu chuẩn mới về môi trường và phòng cháy chữa cháy. Hạ tầng xã hội gồm nhà ở công nhân đến dịch vụ y tế, giáo dục chưa theo kịp tốc độ phát triển, gây khó khăn trong thu hút và giữ chân lao động chất lượng cao.
Liên kết chuỗi trong nội khu và giữa các KCN còn yếu, công nghiệp hỗ trợ thiếu các mắt xích quan trọng, khiến tỷ lệ nội địa hóa thấp. Đặc biệt, nguy cơ “bãi rác công nghệ” đang hiện hữu khi vẫn tồn tại tỷ lệ lớn doanh nghiệp sử dụng công nghệ trung bình - thấp, thâm dụng lao động và phát thải cao. Thống kê tại 8 KCN cho thấy, nhóm ngành này chiếm gần 30% doanh nghiệp.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tư duy phát triển kéo dài nhiều năm, khi mục tiêu lấp đầy đất công nghiệp và tạo việc làm được ưu tiên hơn chất lượng công nghệ. Trong khi đó, công cụ kiểm soát sau cấp phép còn hạn chế, hạ tầng môi trường lạc hậu, chuyển đổi số trong quản lý chưa đồng bộ.
Chuyển trọng tâm phát triển từ “lấp đầy” sang “giá trị trên mỗi ha”
Trước thực trạng trên, Hà Nội đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển mới, lấy “giá trị trên mỗi ha” làm thước đo cốt lõi thay vì chỉ số lấp đầy. Theo đó, thành phố sẽ lựa chọn dự án dựa trên các tiêu chí chặt chẽ về công nghệ, môi trường và hiệu quả sử dụng đất, đồng thời áp dụng cơ chế buộc nâng cấp hoặc đào thải trong suốt vòng đời dự án.
Trong định hướng dài hạn, Hà Nội giữ vai trò trung tâm R&D, tài chính và dịch vụ cao cấp, còn sản xuất công nghiệp quy mô lớn được phân bổ ra các địa phương lân cận. Các KCN thế hệ mới sẽ phát triển theo mô hình “sản xuất - đổi mới sáng tạo - dịch vụ - đô thị”, vận hành thông minh trên nền tảng công nghệ như IoT, AI, dữ liệu lớn, hướng tới kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
Giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là nâng cấp các KCN hiện hữu thông qua chuyển đổi số, hoàn thiện hạ tầng viễn thông, triển khai hệ thống quản lý thông minh và điều chỉnh quy hoạch để tạo dư địa cho đầu tư chiều sâu. Đồng thời, các KCN trong khu vực đô thị sẽ từng bước được chuyển đổi sang mô hình đô thị - dịch vụ, giải phóng quỹ đất và tránh tái diễn mô hình công nghiệp công nghệ thấp trong nội đô.
Song song đó, thành phố đặt mục tiêu thiết lập lại kỷ cương quản lý thông qua “làm sạch” danh mục dự án, xử lý dứt điểm các điểm nóng môi trường, xây dựng hệ thống giám sát bằng dữ liệu và KPI, áp dụng bộ tiêu chí bắt buộc về hạ tầng môi trường và sàng lọc dự án.
Ở góc độ chuyên gia, TS.Hoàng Dương Tùng, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay là chuyển từ mô hình “xử lý chất thải” sang “tuần hoàn tài nguyên”. Dù Việt Nam đã có nhiều chính sách như Luật Bảo vệ môi trường 2020 hay Nghị định 35/2022/NĐ-CP, nhưng vẫn thiếu các công cụ vận hành cụ thể như tiêu chuẩn tái sử dụng nước, cơ chế “kết thúc chất thải” (End-of-Waste) hay hệ thống dữ liệu tích hợp.
TS.Hoàng Dương Tùng, khuyến nghị, Hà Nội cần đột phá ở ba trụ cột: Dữ liệu, thủ tục và cơ chế thử nghiệm (sandbox). Nếu triển khai hiệu quả, Thành phố có thể rút ngắn 3-5 năm trong lộ trình chuyển đổi KCN sang mô hình xanh, tuần hoàn.
Dù Nghị định 35/2022/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế đã bước đầu đặt nền tảng cho việc chuẩn hóa các tiêu chí khu công nghiệp sinh thái, song theo TS. Nguyễn Hữu Khánh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), so với các bộ tiêu chí của Trung Quốc hay tiêu chuẩn quốc tế của UNIDO, vẫn còn không ít khoảng trống. Do đó, việc chuyển đổi sang mô hình KCN sinh thái, đô thị - dịch vụ và đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu trong cạnh tranh toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam cần sớm xây dựng một bộ tiêu chí tích hợp, không chỉ bao phủ yếu tố môi trường mà còn bao gồm tiêu chí xã hội và đổi mới sáng tạo, làm cơ sở cho quá trình chuyển đổi đồng bộ.
Theo các chuyên gia, việc xây dựng một thước đo chuẩn mực sẽ là "kim chỉ nam" để các địa phương và nhà đầu tư mạnh dạn chuyển đổi, đưa công nghiệp Việt Nam thoát khỏi bẫy gia công giá trị thấp, tiến tới mô hình công nghiệp xanh, thông minh và nhân văn.
Với cách tiếp cận mới, Hà Nội không chỉ giải bài toán nâng cao hiệu quả sử dụng đất, mà còn tái định vị vai trò của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu, từ một trung tâm sản xuất sang trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ cao của khu vực.
Nguyễn Hạnh