Mở rộng nội dung điều tra phòng vệ thương mại
Số liệu từ Bộ Công Thương cho biết, tính đến ngày 30/3/2026 Việt Nam đã ứng phó và xử lý 306 vụ việc do nước ngoài điều tra, trong đó tập trung nhiều nhất ở các ngành sắt thép, nhựa, gỗ và sợi. Các thị trường điều tra lớn tiếp tục là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada và EU...
Riêng năm 2025, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với 21 vụ việc phòng vệ thương mại nước ngoài mới khởi xướng phát sinh từ 11 thị trường. Trong đó, Hoa Kỳ vẫn là nước điều tra nhiều nhất với 7 vụ việc (chiếm 33% số vụ việc trong năm 2025).
Liên quan đến thị trường Hoa Kỳ, từ New York, chia sẻ riêng với phóng viên Báo Công Thương, ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại đây cũng chia sẻ: Hoa Kỳ hiện là quốc gia sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhiều nhất đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Ngay cả trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như cá tra, tôm đã bị Hoa Kỳ điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá.
Ông Đỗ Ngọc Hưng, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ chia sẻ với Báo Công Thương về các biện pháp điều tra phòng vệ thương mại từ Hoa Kỳ.
Chia sẻ cụ thể hơn, ông Đỗ Ngọc Hưng cho biết, các vụ việc phòng vệ thương mại do Hoa Kỳ khởi xướng đối với Việt Nam có phạm vi rất rộng, trải dài từ nhóm hàng nông sản đến công nghiệp chế biến, từ các mặt hàng có kim ngạch lớn đến các sản phẩm ngách.
Đáng chú ý, trong những năm gần đây, ngành gỗ và sản phẩm gỗ nổi lên là một trong những lĩnh vực chịu áp lực điều tra mạnh nhất từ phía Hoa Kỳ trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng nhanh, thị phần tại Hoa Kỳ ngày càng mở rộng và xu hướng bảo hộ thương mại tại Mỹ gia tăng.
“Đối với ngành gỗ, Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra và áp dụng nhiều biện pháp phòng vệ thương mại đối với các sản phẩm của Việt Nam như gỗ dán, tủ gỗ, gỗ dán cứng và gỗ trang trí.
Những mặt hàng kể trên gần như đã phải đối mặt đầy đủ với các loại hình phòng vệ thương mại mà Hoa Kỳ áp dụng, bao gồm điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp và chống lẩn tránh thuế”, ông Đỗ Ngọc Hưng thông tin và cho biết thêm, các vụ việc chống lẩn tránh thuế có xu hướng ngày càng phức tạp khi phía Hoa Kỳ tăng cường rà soát nguồn gốc nguyên liệu, quy trình sản xuất, tỷ lệ giá trị gia tăng và khả năng chuyển tải bất hợp pháp từ nước thứ ba.
Cùng với các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống, ngành gỗ Việt Nam còn đang nằm trong nhóm hàng chịu tác động theo Mục 232 của Đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962 của Hoa Kỳ. Ảnh: Bình Nguyên
Đáng chú ý, ông Đỗ Ngọc Hưng cho rằng, bên cạnh các biện pháp phòng vệ thương mại truyền thống, ngành gỗ còn đang nằm trong nhóm mặt hàng chịu tác động từ các biện pháp hạn chế thương mại theo Mục 232 của Đạo luật Thương mại mở rộng năm 1962 của Hoa Kỳ. Đây là công cụ cho phép Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp thương mại với lý do an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, ông Hưng lưu ý, việc xem xét theo Mục 232 không chỉ áp dụng đối với riêng Việt Nam mà đang được triển khai đối với nhiều quốc gia xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.
“Xu hướng điều tra của Hoa Kỳ trong giai đoạn mới không chỉ tập trung vào yếu tố giá bán hay trợ cấp truyền thống mà còn mở rộng sang các nội dung liên quan đến chuỗi cung ứng, xuất xứ nguyên liệu, lao động cưỡng bức, phát thải carbon, tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp và khả năng truy xuất nguồn gốc”, ông Đỗ Ngọc Hưng cảnh báo và cho rằng, xu hướng này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nói chung và ngành gỗ nói riêng.
Chủ động giải pháp ứng phó từ sớm, từ xa
Để giảm thiểu rủi ro bị điều tra, áp thuế và bảo vệ lợi ích doanh nghiệp trong giai đoạn mới, Tham tán thương mại, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ đề xuất:
Thứ nhất, cần tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh phụ thuộc quá lớn vào một thị trường đơn lẻ, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ. Việc tăng trưởng quá nóng tại một thị trường trong thời gian ngắn thường là yếu tố kích hoạt các vụ kiện phòng vệ thương mại.
Thứ hai, doanh nghiệp cần chủ động trang bị kiến thức và nâng cao năng lực ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn bị động, thiếu hiểu biết về quy trình điều tra, dẫn đến việc không hợp tác đầy đủ hoặc cung cấp thông tin không đúng chuẩn, từ đó phải chịu mức thuế rất cao.
Thứ ba, cần xây dựng hệ thống quản trị, kế toán và lưu trữ dữ liệu hiện đại, minh bạch, bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc nguyên liệu và nhanh chóng cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan điều tra Hoa Kỳ. Trong bối cảnh các vụ việc ngày càng đi sâu vào chuỗi cung ứng và xuất xứ hàng hóa, đây sẽ là yếu tố mang tính quyết định.
Thứ tư, doanh nghiệp cần chủ động hợp tác đầy đủ với cơ quan điều tra Hoa Kỳ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp tham gia hợp tác nghiêm túc thường có cơ hội được hưởng mức thuế thấp hơn đáng kể so với các doanh nghiệp không hợp tác.
Thứ năm, cần xây dựng mạng lưới thông tin và phối hợp chặt chẽ với các nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng và hệ thống luật sư tại Hoa Kỳ nhằm kịp thời cập nhật diễn biến vụ việc, xu hướng chính sách cũng như tranh thủ tiếng nói từ phía doanh nghiệp nhập khẩu Hoa Kỳ.
Thứ sáu, doanh nghiệp cần thường xuyên cập nhật thông tin từ Bộ Công Thương và hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại để chủ động đánh giá nguy cơ và chuẩn bị phương án ứng phó từ sớm, từ xa.
Trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu biến động mạnh, xu hướng bảo hộ gia tăng và cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng gay gắt, ông Đỗ Ngọc Hưng cho rằng, công tác phòng vệ thương mại cần được xác định không chỉ là công cụ xử lý tranh chấp mà phải trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển xuất khẩu bền vững của Việt Nam.
Riêng năm 2025, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam phải đối mặt với 21 vụ việc phòng vệ thương mại nước ngoài mới khởi xướng phát sinh từ 11 thị trường. Trong đó, Hoa Kỳ vẫn là nước điều tra nhiều nhất với 7 vụ việc (chiếm 33% số vụ việc trong năm 2025).
Hoàng Hòa