Những trang trại nuôi cá trên hồ Hòa Bình.
Giữa mênh mông lòng hồ Hòa Bình, những dãy lồng cá nổi lên như những “cánh đồng thủy sản” trải dài. Buổi sớm, mặt nước phẳng lặng, thấp thoáng những chiếc thuyền nhỏ qua lại chăm sóc lồng cá. Không khí lao động nhộn nhịp ấy phản ánh một thực tế nuôi cá lồng trên hồ đã vượt qua giai đoạn tự phát, từng bước trở thành ngành kinh tế có tổ chức, có định hướng phát triển lâu dài.
Hồ thủy điện Hòa Bình sở hữu diện tích mặt nước khoảng 20.000ha, có quy mô lớn nhất nước, được xem là “mỏ vàng xanh” cho ngành thủy sản. Hiện toàn hồ có khoảng 4.700 lồng nuôi cá, sản lượng đạt gần 6.000 tấn mỗi năm, mang lại giá trị hàng trăm tỷ đồng, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương. Những con số này cho thấy tiềm năng không chỉ nằm ở diện tích mặt nước mà còn ở cách khai thác nguồn tài nguyên ấy.
Trước đây, nghề nuôi cá lòng hồ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian, quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Người dân thả cá trong những lồng đơn giản, chưa chú trọng đến kỹ thuật và thị trường. Nhưng vài năm gần đây, khi nhu cầu thực phẩm sạch tăng cao, cùng với sự hỗ trợ từ chính quyền và ngành nông nghiệp, nghề nuôi cá đã bước vào một giai đoạn phát triển mới.
Nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư hàng chục, thậm chí hàng trăm lồng nuôi với hệ thống lưới hiện đại, thể tích lớn, đảm bảo an toàn và nâng cao năng suất. Các trang trại nuôi cá dần hình thành theo hướng tập trung, quy hoạch bài bản, thay thế cho mô hình phân tán trước đây.
Công ty TNHH Thủy hải sản Hải Đăng là một trong những doanh nghiệp tiên phong trong xu hướng này. Tại tổ Tháu, phường Thống Nhất, công ty đã xây dựng hệ thống 200 lồng nuôi đạt chuẩn VietGAP, tạo ra sản lượng hơn 600 tấn cá mỗi năm. Trong đó, cá lăng, một đặc sản của sông Đà chiếm khoảng 30% sản lượng, trở thành sản phẩm chủ lực cung cấp cho thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận.
Không chỉ tập trung vào sản xuất, doanh nghiệp còn mở rộng liên kết với các hộ dân quanh hồ. Thông qua việc chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ con giống và bao tiêu sản phẩm, Hải Đăng đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời xây dựng thương hiệu cá sông Đà một cách bền vững.
Trao đổi với phóng viên, bà Nguyễn Thị Dung - Giám đốc điều hành Công ty Hải Đăng cho biết: “Chúng tôi xác định rõ, nếu chỉ doanh nghiệp phát triển thì chưa đủ. Muốn bền vững thì phải kéo người dân cùng tham gia. Khi tất cả cùng sản xuất theo tiêu chuẩn, chất lượng cá sẽ đồng đều và thương hiệu mới được giữ vững lâu dài”. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn đầu tư chế biến sâu với các sản phẩm như ruốc cá đạt chuẩn OCOP 4 sao, mở ra hướng đi mới trong gia tăng giá trị sản phẩm.
Cùng với việc mở rộng quy mô, yếu tố sạch và bền vững đang trở thành tiêu chí quan trọng trong nuôi cá lòng hồ. Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, việc áp dụng các tiêu chuẩn như VietGAP hay hướng tới nuôi hữu cơ là xu thế tất yếu.
Nhiều doanh nghiệp đã xây dựng quy trình nuôi khép kín, từ khâu chọn giống, quản lý thức ăn đến kiểm soát môi trường nước. Cá được nuôi trong điều kiện hạn chế tối đa hóa chất, kháng sinh, đảm bảo chất lượng khi đến tay người tiêu dùng.
Công ty TNHH Cường Thịnh (Cường Thịnh Fish) là một ví dụ điển hình. Bắt đầu từ năm 2012 với chỉ 20 lồng cá, đến nay doanh nghiệp đã phát triển lên 250 lồng đạt chuẩn VietGAP trên diện tích hơn 3ha mặt nước. Từ trên cao nhìn xuống, khu nuôi của doanh nghiệp giống như một “trang trại nổi” quy mô lớn giữa lòng hồ.
Nhờ cách làm này, sản phẩm của Cường Thịnh luôn đạt chất lượng cao, được thị trường tin tưởng. Năm 2019, cá lăng đen và cá rô phi lê của doanh nghiệp đã được công nhận đạt chuẩn OCOP 4 sao, góp phần nâng tầm thương hiệu cá sông Đà.
Không chỉ doanh nghiệp lớn, nhiều hợp tác xã và hộ dân cũng đang chuyển đổi sang nuôi cá sạch. Việc lựa chọn các loài cá đặc sản như cá lăng, cá trắm đen, cá diêu hồng không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Dù có nhiều tiềm năng, nghề nuôi cá lồng trên hồ Hòa Bình vẫn đối diện không ít khó khăn như dịch bệnh, nguồn nước thay đổi mỗi khi mùa mưa đến, “nước lạ” từ đầu nguồn đổ về, rồi chi phí thức ăn tăng cao và thị trường tiêu thụ chưa ổn định là những vấn đề lớn đặt ra. Trước thực tế này, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã chủ động xây dựng các giải pháp đồng bộ. Việc kiểm soát chất lượng nước được thực hiện thường xuyên, kết hợp với hệ thống xử lý tăng cường oxy cho cá... Các biện pháp phòng bệnh cũng được áp dụng khoa học, giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, mô hình liên kết chuỗi đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Hiện nay, trên lòng hồ thủy điện Hòa Bình có gần 40 hợp tác xã và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, tạo nên mạng lưới sản xuất và tiêu thụ tương đối ổn định. Trong chuỗi này, doanh nghiệp và HTX không chỉ nuôi cá mà còn đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường. Qua đó, không chỉ giúp đảm bảo đầu ra mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu rủi ro.
Để cho những “làng cá nổi” trên hồ Hòa Bình không chỉ là nơi sản xuất mà còn trở thành điểm đến trải nghiệm hấp dẫn du khách, ngành Nông nghiệp tỉnh đang tiếp tục định hướng phát triển nuôi thủy sản theo hướng bền vững, tập trung vào các loài cá đặc sản, mở rộng mô hình VietGAP, hữu cơ và gắn với du lịch sinh thái.
Hồng Trung