“Cửa tử” trên tuyến đường chi viện chiến trường Điện Biên Phủ
Con đường từ trung tâm xã lên khu di tích dài hơn 10 km, qua những dải đồi xanh thẳm. Đến chân đèo, thêm chừng 2 km đường nhỏ uốn lượn, một bên là sườn núi, một bên là vực sâu, địa hình hiểm trở ấy như vẫn còn in đậm dấu tích của một thời “mưa bom, bão đạn”.
“Ngày ấy, đi qua đoạn này là xác định đối mặt với cái chết…”, giọng cựu chiến binh Phạm Đức Nguồn, thôn Đèo Sặt trầm xuống khi chỉ tay về phía con dốc dựng đứng. Các em học sinh lặng đi, ánh mắt hướng theo từng lời kể.
Cựu chiến binh Phạm Đức Nguồn kể chuyện cho các em học sinh Trường Trung học cơ sở Đồng Hưu về chiến công của lực lượng thanh niên xung phong và Nhân dân trên tuyến vận tải chiến lược Đèo Cà.
Con đường lên Đèo Cà hiện nay vẫn giữ nguyên những khúc cua gắt, những đoạn dốc cao. Đoàn dừng chân tại Khu bia tưởng niệm đơn vị thanh niên xung phong C231 - C232. Dưới tán cây, tấm bia đá giản dị mà trang nghiêm. Những dòng chữ khắc sâu như nhắc nhở hậu thế về một “tọa độ lửa” từng ghi dấu bao máu xương.
Theo lời kể của các cựu chiến binh, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Đèo Cà thuộc xã Đồng Hưu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Đồng Kỳ, tỉnh Bắc Ninh) là một trong những điểm đánh phá ác liệt nhất của địch nhằm cắt đứt tuyến chi viện lên chiến trường Điện Biên Phủ.
Năm 2006, khu vực này được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa thanh niên xung phong Đèo Cà. Tấm bia tưởng niệm được dựng lên, ghi danh những đơn vị, những con người đã góp phần giữ vững mạch máu giao thông. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đèo Cà mang ý nghĩa đặc biệt: Là một điểm đến lịch sử, là lớp học về truyền thống cách mạng cho Nhân dân và thế hệ trẻ.
Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn ngày 13/3/1954 với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến”, hàng nghìn dân công Yên Thế đã ngày đêm vận chuyển lương thực, vũ khí. Hàng trăm xe đạp thồ, hàng trăm con trâu được huy động phục vụ chiến dịch nhưng để đến được Điện Biên Phủ, tất cả hàng hóa do các nước bạn hỗ trợ đều phải đi qua Đèo Cà - “nút thắt cổ chai” của tuyến vận tải chiến lược.
Đứng trên đỉnh đèo, nhìn xuống con đường nhỏ vắt ngang sườn núi, không khó để hiểu vì sao nơi đây được gọi là “cửa tử”. Đèo Cà chỉ dài hai cây số, nhưng trong đó có hơn 500 m đường đèo rất hẹp, một bên là sườn núi cao, một bên là suối sâu, vực thẳm.
Đèo Cà không chỉ hiểm trở về địa hình mà còn là trọng điểm đánh phá ác liệt nhất. Trong hơn một tháng cao điểm (từ đầu tháng 4 đến ngày 7/5/1954), thực dân Pháp đã trút xuống đây hàng nghìn quả bom, hàng nghìn quả đạn pháo, với mục tiêu duy nhất là cắt đứt mạch máu giao thông của ta.
Theo hồi ký “Cựu thanh niên xung phong C231 - C232 những nhân chứng lịch sử”: “Bom nổ chậm nằm đầy đường. Có hôm vừa san xong mặt đường, chưa kịp cho xe qua thì bom lại dội xuống. Nhưng chỉ cần địch ngớt là anh em lao ra làm ngay. Địch phá, ta lại làm - cứ thế suốt 35 ngày đêm”.
Đặc biệt, lực lượng thanh niên xung phong C231 - C232 (thuộc Ty Giao thông công chính Bắc Giang quản lý) đã lập nên những chiến công xuất sắc. Trong suốt 35 ngày đêm ác liệt nhất, họ vừa chiến đấu, vừa lao động với cường độ phi thường. Mỗi ngày làm việc hơn 16 giờ, san lấp hàng vạn mét khối đất đá, mở đường tránh, sửa cầu, vá đường, bảo đảm giao thông thông suốt.
Đoàn xe thồ trên đường vận chuyển lương thực phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu - TTXVN.
Nhiều tấm gương dũng cảm như đồng chí Hoàng Thị Thu, mặc dù được nghỉ ốm nhưng vẫn xin ra mặt đường chia lửa với đồng đội. Trong loạt đại bác của địch tối ngày 6/5, đồng chí Hoàng Thị Thu bị thương nặng, trước khi hy sinh còn căn dặn đồng đội “Các anh, các chị phải giữ bằng được con đường”.
Trong những ngày bom đạn ác liệt của kẻ thù dội xuống, cùng với tấm gương của đồng chí Hoàng Thị Thu, có nhiều đồng chí đã tự buộc dây vào người, đu xuống sườn đèo để phá bom nổ chậm; có người ngã xuống khi vẫn đang vác gỗ chống lầy cho xe đi qua; có người bám trụ trên đỉnh đèo để đánh dấu bom chưa nổ. Họ hiểu rằng, mỗi chuyến xe qua được Đèo Cà là thêm một phần sức mạnh cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Giặc Pháp nhằm những nơi xung yếu nhất như đỉnh Đèo Cà, đoạn đường thấp trũng Bo Non và bến phà Sỏi mà bắn phá; nhiều tốp máy bay thay phiên nhau từ sáng đến tối, liên tục thả đủ các loại bom phá, bom sát thương và bom nổ chậm. Trong 35 ngày đêm, chúng đã chút xuống đây 1.750 quả bom, trọng lượng từ 50 kg đến 300 kg và bắn 6.300 quả đại bác lên Đèo Cà và vùng lân cận.
“Đèo Cà tắc thì cả tuyến tắc” nhận định ấy cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của nơi này. Với quyết tâm bảo vệ và giữ vững mạch máu giao thông, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Bắc Giang, đội phá bom nổ chậm và 2 vạn dân công kiên cường, dũng cảm tháo bom nổ chậm, nhanh chóng sửa lại những quãng đường, cầu, phà bị hỏng. Cũng vì thế, trong suốt 35 ngày đêm lịch sử đó, Đèo Cà vẫn thông xe, bến phà Sỏi vẫn hoạt động.
Máu đã đổ, nhưng con đường chưa bao giờ tắc. Mỗi đêm, hàng chục chuyến xe vận tải nối nhau vượt đèo, đưa vũ khí, lương thực ra tiền tuyến. Trong suốt chiến dịch, 2.500 lượt xe đã qua đây an toàn, góp phần làm nên “chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Đánh thức ký ức, thắp lửa truyền thống
Chiến tranh đã lùi xa, Đèo Cà hôm nay khoác lên mình màu xanh của rừng núi nhưng ký ức vẫn còn đó, được gìn giữ qua từng dấu tích, từng câu chuyện. Năm 2006, khu vực này được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa thanh niên xung phong Đèo Cà. Tấm bia tưởng niệm được dựng lên, ghi danh những đơn vị, những con người đã góp phần giữ vững mạch máu giao thông.
Bia Di tích lịch sử văn hóa thanh niên xung phong Đèo Cà được xây dựng năm 2007.
Những năm gần đây, chính quyền địa phương và các tổ chức đã tích cực vận động nguồn lực để tôn tạo, bảo tồn di tích. Đường lên đèo được cải thiện, khu bia được chỉnh trang, các hoạt động giáo dục truyền thống được tổ chức thường xuyên.
Đoàn học sinh hôm nay chỉ là một trong rất nhiều đoàn về đây học tập, trải nghiệm. Các em được nghe kể chuyện, được tận mắt nhìn thấy địa hình hiểm trở, được chạm tay vào lịch sử, điều mà sách vở khó có thể truyền tải trọn vẹn. Đồng chí Trịnh Tùng Dương, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội xã Đồng Kỳ chia sẻ: “Chúng tôi xác định, bảo tồn di tích không chỉ là giữ lại những gì đã có, mà còn là làm cho lịch sử sống lại trong nhận thức của thế hệ trẻ”.
Một chuyến tham quan Đèo Cà, cũng là hành trình trở về với lịch sử. Các em học sinh lặng lẽ thắp hương trước bia tưởng niệm. Khói hương quyện trong gió núi như nối liền quá khứ và hiện tại. Những câu chuyện về lòng dũng cảm, về tinh thần “tất cả cho tiền tuyến” dường như vẫn hiển hiện, vẹn nguyên.
Trong dòng chảy phát triển hôm nay, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đèo Cà mang ý nghĩa đặc biệt. Đây là một điểm đến lịch sử, là lớp học về truyền thống cách mạng cho Nhân dân và thế hệ trẻ. Đồng chí Trịnh Tùng Dương cho biết thêm, trong thời gian tới địa phương tiếp tục khảo sát, quy hoạch, đề nghị cấp trên đầu tư xây dựng, trong đó, chú trọng sưu tầm tư liệu, hiện vật, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo tồn.
Đoàn chúng tôi rời Đèo Cà khi chiều xuống, ánh nắng nhuộm vàng những triền núi nhưng câu chuyện về những con người đã từng sống, chiến đấu, lao động nơi “cửa tử” vẫn còn đọng lại. Con đường 2 km năm xưa, nơi từng hứng chịu hàng nghìn tấn bom đạn, giờ đây trở thành con đường của lịch sử và niềm tự hào tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần yêu nước cho các thế hệ mai sau.
Bài, ảnh: Trung Anh