“Dốc Pha Đin chị gánh, anh thồ/ Đèo Lũng Lô anh hò, chị hát/ Dù bom đạn xương tan, thịt nát/ Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...”, những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu đã khắc họa phần nào những cống hiến to lớn của lực lượng dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, góp phần làm nên chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
Lực lượng dân công hỏa tuyến vận chuyển hàng hóa trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Ảnh tư liệu.
Theo thống kê, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, xe đạp thồ của dân công được huy động lên tới 20.000 xe, vận chuyển được 1/3 trọng tải toàn chiến dịch.
Toàn chiến dịch, nhân dân ta đã đóng góp 261.453 lượt dân công với 18.301.570 ngày công, 25.056 tấn gạo, 1.824 tấn thịt và thực phẩm khô, hàng nghìn tấn rau.
Những chiếc xe đạp thồ huyền thoại được trưng bày tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh: Mai Loan.
Lực lượng dân công còn làm nhiều con đường qua những địa hình rừng núi cực kỳ hiểm trở để vận chuyển pháo bằng ô tô vào trận địa. Cùng với đó, tham gia sửa chữa, gia cố lại các tuyến đường sụt lún, lầy lội do bom đạn địch cày xới, hoặc do mưa lũ, xe đi gây ra.
Hơn 70 năm đã trôi qua, nhưng ký ức của “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” vẫn vẹn nguyên trong tâm trí những người tham gia chiến dịch, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng năm xưa.
Từng giờ, từng phút thi đua đảm bảo nguồn tiếp tế cho tuyến đầu
Ông Vũ Công Hồng (SN 1936, hiện trú tại TP Hạ Long, Quảng Ninh) chia sẻ, ông sinh ra và lớn lên tại Vùng Mỏ, theo gia đình tản cư về Thanh Hóa trong những năm kháng chiến. Từ đây, ông có cơ duyên tham gia đoàn xe đạp thồ phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ông Hồng từng là người trẻ nhất trong đội xe đạp thồ.
Tháng 2/1954, khi mới 17 tuổi, ông Hồng là người trẻ nhất trong đội xe đạp thồ của thị trấn Thanh Hóa. Cùng đồng đội, chàng thanh niên mang trong mình khí thế sục sôi, vượt hàng trăm km rừng núi qua Hòa Bình, Sơn La, chinh phục đèo Pha Đin, tiến tới ngã ba Tuần Giáo và vào Điện Biên Phủ.
Trong suốt hành trình, mỗi ngày ông Hồng cùng đồng đội vượt qua ba con đèo dài khoảng 35km, vận chuyển 1,5 tạ hàng vào chiến trường. Điều kiện vô cùng gian khổ, bom đạn, ăn giữa rừng, ngủ trên những tấm nilon trải đất. Thế nhưng, từng giờ, từng phút, họ thi đua đảm bảo nguồn tiếp tế cho bộ đội nơi tuyến đầu.
Dù không trực tiếp chiến đấu, nhưng mỗi khi tin tức từ mặt trận truyền về, ông và đồng đội luôn dõi theo với niềm tin sắt đá vào thắng lợi. Ông Hồng xúc động nhớ lại khoảnh khắc lịch sử:
“Chiều 7/5, một thanh niên đi ngựa, tay cầm lá cờ nho nhỏ từ trong Điện Biên đi ra dọc đường về Lai Châu. Ông ấy nói nhiều nên khản tiếng rồi, nhưng chúng tôi vẫn nghe rõ câu ‘Thắng lợi rồi, chiến thắng rồi’. Dân công nghe thế là hiểu rồi, đoàn người cứ thế cùng hô vang”.
Sau hơn ba tháng phục vụ mặt trận, những thanh niên làm nhiệm vụ vận tải như ông Hồng mới có dịp tiến vào “lòng chảo” Điện Biên khi chiến trường còn ngổn ngang. Nếu niềm vui chiến thắng là sự vỡ òa, thì những ngày sau đó lại mang đến cảm xúc rộn ràng, nao nức.
Kết thúc chiến dịch, ông Vũ Công Hồng tiếp tục ở lại Điện Biên Phủ phục vụ các hoạt động của bộ đội đến ngày 29/5/1954, trước khi trở về Vùng Mỏ công tác trong ngành than và thống kê.
Kỷ vật được ông trân trọng giữ gìn.
Trải qua hơn 70 năm, kỷ vật ông vẫn trân trọng gìn giữ là tờ chứng nhận “Chiến sĩ dân công vẻ vang mặt trận Điện Biên Phủ” do Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trao tặng – minh chứng cho một thời tuổi trẻ cống hiến đầy tự hào.
Dù địch đánh phá đến đâu, vẫn tiến lên
Trong dòng ký ức còn vẹn nguyên của những người từng đi qua khói lửa, ông Lường Văn Hương (Sơn La), vẫn bồi hồi khi nhắc về những năm tháng làm dân công hỏa tuyến phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Lường Văn Hương xúc động kể về những năm tháng gian khổ mà hào hùng.
Năm ấy, khi vừa tròn 20 tuổi, độ tuổi căng tràn sức trẻ, ông Hương cùng hơn 20 thanh niên trong xã tình nguyện lên đường. Nhiệm vụ của họ là sửa chữa các tuyến đường trọng yếu tại đèo Pha Đin, đồng thời gánh gạo, vận chuyển lương thực tiếp tế cho mặt trận Mường Ẳng.
Ông Hương nhớ lại, những ngày đầu tham gia chiến dịch, lệnh huy động được triển khai gấp rút từ huyện đến xã. Các tổ dân công phải di chuyển liên tục, khi đi đêm, lúc đi ban ngày, bất chấp hiểm nguy rình rập. “Hễ nơi nào bị bom đánh phá, chúng tôi lập tức có mặt để san lấp hố bom, chặt cây, đóng cọc, gia cố lại mặt đường. Dù địch đánh phá đến đâu, chúng tôi vẫn tiến lên”, ông kể, giọng trầm lại.
Không chỉ đối mặt với bom đạn, thử thách lớn nhất đối với ông và đồng đội là việc sửa chữa đường sá bằng những công cụ thô sơ trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Để tránh sự phát hiện của máy bay địch, phần lớn công việc phải tiến hành vào ban đêm. Dẫu vậy, tinh thần quyết tâm chưa bao giờ lay chuyển. “Thường khoảng 5 giờ là tập trung đi nhận hàng. Có khi lại được giao nhiệm vụ đưa thương binh xuống tuyến dưới. Đường đi từng chặng rất gian nan, nhưng ai cũng cố gắng vượt qua,” ông Hương chia sẻ.
Cùng chung ký ức hào hùng ấy, ông Lường Văn Sinh, (Sơn La) không giấu được niềm tự hào khi nhớ lại thời điểm mình là người trẻ nhất trong số 24 thanh niên của xã tham gia vận chuyển lương thực cho bộ đội.
Ông Lường Văn Sinh vẫn nhớ rõ ký ức như vừa mới hôm qua.
Khi ấy, ông Sinh mới 15 tuổi. Dẫu còn nhỏ, nhưng ý thức trách nhiệm với đất nước đã sớm thôi thúc ông lên đường. Ông kể, khi nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc mỗi người góp sức theo khả năng, ông tự nhủ mình cũng phải góp phần vào cuộc kháng chiến. “Tôi nghĩ đơn giản, sức mình đến đâu thì làm đến đó. Có lúc gánh 15kg, khi thì 20kg, miễn là góp được công sức cho bộ đội”, ông nói.
Với ông Sinh, gian khó không phải là trở ngại, mà trở thành động lực. Chính tinh thần ấy đã tiếp thêm sức mạnh để ông và đồng đội kiên trì bám trụ, hướng tới mục tiêu lớn nhất: giành lại độc lập cho dân tộc. “Dù là nhỏ nhất, tôi vẫn phải đi, vẫn phải làm. Ai cũng phải xông lên thì đất nước mới có ngày giải phóng, nhân dân mới có cuộc sống tự do, hạnh phúc”, ông bộc bạch.
Thời gian trôi qua, dấu ấn tuổi tác đã in hằn trên mái tóc, làn da của những người dân công năm xưa. Dẫu trí nhớ có lúc vơi đầy, nhưng ký ức về Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 vẫn luôn sống động trong tâm trí họ.
Những câu chuyện xúc động của họ là minh chứng chân thực cho một thời kỳ lịch sử oanh liệt của dân tộc. Đó cũng là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau về lòng biết ơn, về trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị cách mạng đã được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, xương máu.
Mời quý độc giả xem thêm video: Toàn cảnh dự án chống ngập khẩn cấp 1166 tỷ đồng ở Hà Nội. Nguồn Tin tức
Mai Loan
Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống : https://kienthuc.net.vn/ky-uc-chi-ganh-anh-tho-viet-nen-huyen-thoai-dien-bien-phu-post1615587.html