"Làng Địa ngục" là nơi sinh sống của 18 hộ dân người Mông cùng chung họ Vàng
Sự nổi tiếng gần đây từ bộ phim "Tết ở làng Địa ngục" đã khiến Sảo Há được biết đến nhiều hơn nhưng gốc rễ của tên gọi này lại nằm sâu trong ký ức về thời kỳ thổ phỉ và sự hiểm trở của địa hình đá tai mèo.
Trong suốt nhiều thập kỷ, Sảo Há là ngôi làng "3 không": Không điện, không nước, không sóng wifi. Ảnh: T.D
Quần thể biệt lập này là nơi sinh sống của 18 hộ dân người Mông, tất cả đều chung họ Vàng. Trong suốt nhiều thập kỷ, Sảo Há là ngôi làng "3 không": không điện, không nước, không sóng wifi, với cánh cổng làng là 2 miếu thờ cổ kính toát lên vẻ âm u, kỳ bí. Nhưng đằng sau cánh cổng ma mị đó, sâu bên trong những nếp nhà trình tường vững chãi, là một sự kiên cường đáng kinh ngạc. Đó là nghị lực tự kéo điện, là sự đánh đổi cả gia sản để lấy nước sinh hoạt và khát vọng về tương lai cùng ánh sáng tri thức cho con trẻ.
Chinh phục thử thách
Suốt nhiều năm, con đường lên Sảo Há là một "huyền thoại" của sự gian truân, một bài kiểm tra sức người không nhân nhượng. Giờ đây, người dân có thể di chuyển bằng xe máy trên quãng đường khoảng 3km, với nhiều dốc cua nguy hiểm nhưng mấy năm trước thôi, đây chỉ là lối mòn vắt vẻo quá núi đá tai mèo lạnh lẽo. Nhắc đến Sảo Há, bất cứ ai cũng phải e ngại. Nơi đó không chỉ có sự khó khăn về cơ sở vật chất mà còn là ranh giới mong manh giữa sự sống và sự bế tắc, là thử thách lòng kiên nhẫn và ý chí sinh tồn.
Những đứa trẻ ở Sảo Há
Ông Vàng Giông Cáu (61 tuổi), người dân tộc Mông cả đời gắn bó với làng, hồi tưởng lại những ngày tháng không thể quên: "Trước đây, đường lên làng này không phải là đường đi. Nó là đường trèo, là đường bò. Xe máy không lên được, chỉ có chân người thôi. Mưa xuống thì lầy lội, trơn trượt như đổ mỡ, bùn và đá nhọn trộn lẫn. Nắng lên thì đá tai mèo sắc nhọn, gồ ghề, cứa rách dép, rách giày. Không cẩn thận là ngã xuống vực".
Ông Vàng Giông Cáu và các cháu
Sự gian khổ này được anh Vàng Sìa Sì (nguyên Trưởng thôn) khắc họa chi tiết hơn. Anh nhớ những lần phải vác vật liệu nặng như bao xi măng, can dầu, cứ leo được vài bước lại phải dừng lại thở dốc. Tiếng thở dốc hòa lẫn tiếng gió rít qua vách đá. "Đưa được một can nước, một can dầu lên là vô cùng vất vả, vác bao xi măng còn khổ gấp bội. Phải vài người hỗ trợ và mất mấy tiếng đồng hồ mới đưa lên được đến làng", anh Vàng Sìa Sì kể.
Sự cô lập kinh khủng đó đã khiến Sảo Há trở nên lạc hậu về kinh tế. Vì đường quá khó, thương lái không lên được. Lợn, bò nuôi được, ngô thu hoạch được, người dân cũng phải tự gùi xuống núi, vừa mất giá vừa mất công gấp bội. Giá trị nông sản giảm đi một nửa chỉ vì không thể vận chuyển. Anh Sìa Sì chia sẻ: "Làng chúng tôi từng như ốc đảo, đó cũng là lý do cái đói, cái nghèo mãi bám riết lấy mảnh đất này".
Cổng làng Sảo Há với sự hiện diện của 2 miếu thờ nằm đối xứng 2 bên lối vào
Sau khi vượt qua cung đường gian nan, hình ảnh đầu tiên hiện ra trước mắt chúng tôi là cổng làng Sảo Há. Cổng làng được dựng lên với sự hiện diện của 2 miếu thờ nằm đối xứng hai bên lối vào. Cặp miếu này, giữa không gian hoang sơ và sương mù bao phủ, tạo ra một cảm giác khá rờn rợn, âm u. Nó như một lời chào ma mị, nhắc nhở người ta về cái tên "Làng Địa Ngục" và những câu chuyện ly kỳ, huyền bí.
Tuy nhiên, vượt qua cánh cổng đầy ám ảnh đó, cảm giác ghê rợn ngay lập tức tan biến. Thay vào đó, là một cảm giác bình yên đến lạ. Làng Sảo Há hiện ra với những nếp nhà trình tường bằng đất vàng ấm áp, vững chãi, nép mình vào sườn đá. Quanh mỗi ngôi nhà, những bức tường đá cao khoảng 1,5 mét được xếp bằng đá tai mèo một cách tài tình, không cần chất kết dính, vừa để chắn gió, vừa để phân định ranh giới. Những bức tường đá này không chỉ là vật chất mà còn là nét đặc trưng văn hóa độc đáo của người Mông ở đây, nói lên sự gắn bó và tinh thần chinh phục đá của họ.
Cổng phía trong của làng Sảo Há
Anh Vàng Sìa Sì nói rằng, làng anh… bỗng dưng nổi tiếng sau khi đoàn làm phim "Tết ở làng Địa Ngục"chọn nơi đây làm bối cảnh chính. Tuy nhiên, nguyên Trưởng thôn Khó Chớ thừa nhận, cái tên "Làng Địa Ngục" đúng với lịch sử của ngôi làng. Nó không chỉ bắt nguồn từ sự hiểm trở của địa hình mà còn từ một ký ức lịch sử tăm tối, một câu chuyện bi thương mà người dân Sảo Há vẫn kể. Anh l Sìa Sì xác nhận Sảo Há từng là nơi trú ngụ của một nhóm phỉ khét tiếng trong những năm 50 của thế kỷ trước.
Làng Sảo Há với những nếp nhà trình tường bằng đất vàng ấm áp, vững chãi, nép mình vào sườn đá. Ảnh: T.D
"Vùng đất này từng là nỗi ám ảnh, bị cô lập, mỗi lần nhắc đến đều khiến người ta rùng mình sợ hãi", anh Sìa Sì kể lại. Theo anh, do địa thế hiểm yếu, đường đi khó khăn, được bao bọc bởi rừng già và mây mù, nơi đây trở thành địa điểm lý tưởng cho bọn phỉ ẩn náu, thực hiện các hoạt động phi pháp, gieo rắc sợ hãi cho các làng lân cận. Sự xuất hiện của chúng đã khiến Sảo Há không chỉ khó khăn về địa lý mà còn bị cô lập về mặt an ninh.
Làng Sảo Há bình yên và đẹp như bức tranh trong mùa hoa đảo nở. Ảnh: T.D
Chính quyền địa phương đã nhiều lần tổ chức các chiến dịch truy quét nhưng do địa hình phức tạp và sự manh động của bọn phỉ, việc tiêu diệt hoàn toàn gặp nhiều khó khăn. Người dân Sảo Há phải sống trong cảnh thấp thỏm, lo sợ, không dám đi xa làm nương, cuộc sống càng thêm cùng cực. Mãi đến năm 1960, với sự tham gia của lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, cuối cùng, nhóm phỉ ở Sảo Há mới bị tiêu diệt hoàn toàn, trả lại sự bình yên cho người dân. Thế nhưng, cái tên Sảo Há thì đã hóa thạch vào truyền thuyết, ám chỉ những ngày tháng tăm tối, sự khó khăn cùng cực và cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt.
Còn đó những trăn trở
Đằng sau sự hùng vĩ của thiên nhiên, Sảo Há thiếu thốn đủ đường. Cuộc sống của 18 hộ dân Mông ở đây là một vòng quay bất tận của sự tự cung tự cấp, xoay quanh hạt ngô. "Chúng tôi không có đất ruộng để trồng lúa, chỉ có thể bám vào những triền đá tai mèo để gieo hạt ngô. Ngô là nguồn sống, là thực phẩm nuôi sống chúng tôi", ông Cáu chia sẻ và cho biết, khó đưa ra một con số so sánh cuộc sống hiện tại so với trước đây nhưng người đàn ông tuổi Lục tuần này nói rằng, Sảo Hà "vẫn còn rất khó khăn".
Phụ nữ làng Sảo Há tận dụng đất quanh nhà để trồng rau
Gia đình ông Cáu trồng 15kg giống ngô mỗi vụ, làm nương cách nhà đến 3km đi bộ trên địa hình dốc đứng. Quanh năm, món ăn chủ đạo của họ là mèn mén, thứ bột ngô hấp dẻo và món rau cải, rau rừng. Mâm cơm chỉ có vậy. Chỉ những ngày Tết hay khi nhà có khách quý, mâm cơm mới có thêm món thịt. Những bữa mèn mén hàng ngày đã giúp những người dân tộc Mông ở đây chống chọi lại cái đói và cái lạnh trên núi đá. Thu nhập mỗi năm từ việc thu hoạch ngô rất thấp, chỉ khoảng 1 tấn ngô/năm, vừa đủ để lấp đầy dạ dày cả gia đình, vừa để phục vụ chăn nuôi.
Tất cả các hộ dân thôn Khó Chớ đã tự nguyện góp tiền, góp ngày công để làm đường, cùng một phần tiền hỗ trợ của Nhà nước
Tuy nhiên, vài năm gần đây, một sự thay đổi đã nảy mầm từ chính sự kiên cường của người dân. Anh Vàng Sìa Sì kể về hành động đầy ý nghĩa của thôn Khó Chớ, nơi làng Sảo Há trực thuộc. "Chúng tôi không thể chờ mãi được. Đường quá khổ, con cháu đi học, người già đi lại quá nguy hiểm. Tất cả các hộ dân thôn Khó Chớ đã tự nguyện góp tiền, góp ngày công để làm đường, cùng một phần tiền hỗ trợ của Nhà nước. Đó là một cuộc cách mạng nhỏ nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn, nơi mồ hôi và tiền bạc của dân được đổ xuống để chinh phục đá".
Họ cùng nhau đục đẽo đá, vận chuyển vật liệu bằng sức người và những chiếc xe thô sơ, từng bước một chinh phục dốc núi. Dù đường đi vẫn còn gian nan do độ cao và dốc nhưng đường được đổ bê tông nên xe máy có thể đi được. Sự vất vả đi lại đã giảm đi rất nhiều. Sự thay đổi trên con đường chính là lời khẳng định mạnh mẽ nhất về ý chí của con người Mông đã vượt lên trên cả đá tai mèo và bóng tối của ký ức. Họ đã dùng chính mồ hôi và tiền bạc của mình để gột rửa cái tên con đường "địa ngục", bắt đầu một chương mới của sự kết nối và hy vọng.
(Còn nữa)
Bài, ảnh: Nhật Minh