Mãi mãi là một miền mơ tưởng

Mãi mãi là một miền mơ tưởng
3 giờ trướcBài gốc
Miền mơ tưởng ấy cũng gần gũi, thân thuộc như mỗi làng buôn tôi qua, mỗi con người mà tôi gặp trong mỗi ngày thường giữa miền đại ngàn.
1. Nhớ lần ấy, men theo bờ sông Ba cuối miền Kông Chro, tôi tìm về vùng đất còn khá đậm chất Bahnar. Những ngôi làng Bahnar dòng Bờ Nơm như Plei Yơng, Plei Pyang có sức đề kháng khá tốt trước cơn lốc đô thị hóa, vẫn giữ được nhiều sắc thái cổ truyền.
Trong đó, có những nghĩa địa nhà mồ và những tập tục tiễn đưa linh hồn chứa đầy bí ẩn. Khi đến với Kông Chro, trong tôi càng thôi thúc được mãi mãi làm người lữ hành qua những miền đất đa dạng sắc màu.
Tôi muốn được làm khách trong những ngôi nhà sàn nép mình an nhiên trông về hướng nhà rông với bộ sườn nhà chuốt cong như cặp ngà voi, dáng thấp và dài giữa buôn.
Tôi cũng muốn được cởi mở những câu chuyện với những người đàn ông, đàn bà Bahnar bặt thiệp ngẫu nhiên gặp trên đường, bên khung dệt hay sà vào bữa cơm rau rừng, cá suối…
Lễ hội Tây Nguyên không chỉ là dịp cố kết cộng đồng mà còn là nơi để đồng bào kết nối với thần linh và cõi thiêng. Ảnh: U.T.B
Cũng nhớ một ngày mưa cuối năm vùng biên giới Bờ Y. Núi rừng sẫm một màu ướt sũng và cơn gió mang sắc màu riêng của miền biên ải. Cột mốc Ngã ba Đông Dương đặt trên điểm cao 1.086 m so với mực nước biển, góc phương vị phóng chiếu hơn 2 cây số ở 3 quốc gia chỉ hiện hữu những núi non trùng điệp. Không có nơi nào như ở nơi này, chỉ xoay người một vòng quanh trụ đá là đã bước qua quốc thổ ba nước.
Cỏ cây mỗi quốc gia như cũng ngả màu lịch sử, văn hóa khác biệt. Từ cột mốc biên cương, những hình dung về chiều kích Tây Nguyên, về hình hài Tổ quốc như được người du hành nắm bắt dễ dàng hơn.
Từ Ngã ba Đông Dương, tôi phóng tầm mắt rộng về Tây Nguyên. Trong dòng cảm thức ấy, như hiển hiện một miền suy tưởng miên man về xứ sở; một vùng quốc thổ vừa bí ẩn, ảo huyền vừa gần gũi, thân thương…
2. Trong quan niệm của đồng bào Tây Nguyên, nơi nào ngọn núi càng cao, dòng sông càng sâu và lắm thác ghềnh thì thần linh nơi đó càng nhiệm màu. Cư dân miền thượng hành xử theo tiếng vọng sông núi; hồn núi non, sông suối hòa vào huyết quản của họ và tạo nên những hệ minh triết.
Núi cao, sông sâu là không gian của tín ngưỡng, không gian sinh tồn và nuôi dưỡng những chuyện tình lãng mạn. Không chỉ tồn tại như những chỉ dấu địa lý, núi sông là một phần hồn cốt thiêng liêng của xứ sở này.
3 dãy đại sơn Chư Yăng Sin, Bidóup và Ngok Linh sừng sững như ba nóc nhà choãi chân từ ba góc đại ngàn đã tạo nên một thế đứng vững chãi đầy kiêu hãnh.
Những con sông lớn như Krông Anô, Krông Ana, Sêrêpôk, Sê San, Đồng Nai… bắt nguồn từ những dãy núi cao như những dải hoa văn đa sắc, chở trên mình những trầm tích văn hóa, lịch sử.
Từ hoang liêu sơn dã, từ những làng buôn tựa lưng vào núi, ngửa mặt ra sông mà những trường ca Đam San, Xing Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi… ra đời. Từ đá núi, tre rừng mà những nhạc cụ như lúrgoòng, tingning, klôngpút, t’rưng… cất lên thanh âm huyền diệu.
Những câu ca dao Nrí, Nrìng…; những khúc dân ca Ayray, Kưứt, Lảhlông, Yalyău…; những điệu dân vũ đặc trưng cũng hòa quyện hồn người bên bếp lửa rừng, tạo nên một không gian như thực như mơ.
Bao tháng năm trên miền đất đại ngàn, tôi luôn tự hỏi, chiều kích Tây Nguyên được đo lường bằng gì? Đo bằng núi cao, sông sâu, bằng những cánh rừng huyền bí, những thảo nguyên mênh mông hay những trầm tích hàng triệu năm kiến tạo?
Thật khó để định lượng bằng hình ảnh hiện hữu. Những ngọn núi cao hay thấp, những dòng sông lớn hay nhỏ đều có chung một mạch nguồn từ đâu đó thượng nguồn.
Những buôn làng tôi từng qua như có chung một cội rễ anh em. Tôi gặp ở làng Stơr của Anh hùng Núp, làng Saluk mà G.Condominas tìm ra đàn đá và viết bộ khảo cứu nổi tiếng “Chúng tôi ăn rừng”, vùng Bờxaluxiêng của tộc người Stiêng kiên trung, buôn Kotam nơi người Ê Đê tôn thờ giọt nước đầu nguồn hay xứ sở của người Brâu bên cửa khẩu Bờ Y… đều có chung sắc thái thân quen.
Những buôn làng ấy đều có những cánh rừng chở che, những dòng sông đắp bồi sự sống và con người hòa điệu vào thế núi dáng sông mà tạo nên hệ giá trị văn hóa.
Các tộc người trên miền thượng du, dù dân số ít như Brâu, Rơ Măm hay đông như Ê Đê, Bahnar thì cũng cùng chia sẻ không gian cư trú, chung nhịp bước chân, chung bếp lửa cao nguyên…
3. Suốt từ thời tiền sử đến thời cận đại, vùng đất Tây Nguyên đã trải qua những chặng đường biến động nội vùng và những dịch chuyển quan trọng trong quá trình giao lưu với thế giới bên ngoài.
Bên chân dãy Trường Sơn, những tộc người anh em đã dựng nên lịch sử của vùng đất kiêu hãnh. Đó là dòng ký ức chói sáng qua hàng nghìn năm kiến tạo, xây đắp.
Đó là sự bền gan, vững chí như núi, như nước, như sâu thẳm đại ngàn trong những cuộc trường chinh vệ quốc. Từ trong hoang sơ, từ trong máu lửa, người Tây Nguyên bao đời chống chọi với muôn vàn gian nan, muôn vàn kẻ thù nhưng họ đã vượt lên, đã chiến thắng và xác lập trường tồn vị trí chủ nhân của vùng đất đại ngàn.
Mỗi khi tự vấn là đã hiểu gì về Tây Nguyên hay chưa, tôi lại nghĩ về câu nói của nhà dân tộc học người Pháp Jacques Dournes: “Nếu phải hiểu để mà có thể yêu, thì lại phải yêu để mà có thể hiểu”.
Không dám so với Dournes, tôi chỉ là một người bình thường có cơ hội “đi qua miền mơ tưởng” và yêu mảnh đất này, cứ tưởng “đã yêu là hiểu” nhưng mà không phải vậy.
Cho đến một đêm trong ngôi nhà dài giữa rừng Lộc Bắc, khi già làng K’Diệp của buôn làng người Mạ kéo tôi lại bếp lửa, bôi những giọt máu gà tươi lên trán tôi và khấn Yàng cho nhận đứa trai người Kinh làm con của buôn, tôi lặng người xúc động.
Từ lúc đó, tôi nhận ra rằng, mình cần bắt đầu kiếm tìm từ những điều giản dị, từ những “a, b, c...” trong không gian bao la của những điều chưa hiểu về Tây Nguyên.
UÔNG THÁI BIỂU
Nguồn Gia Lai : https://baogialai.com.vn/mai-mai-la-mot-mien-mo-tuong-post580251.html