Mô hình tôm – lúa ở ĐBSCL: Triển vọng nhiều, thách thức lắm!

Mô hình tôm – lúa ở ĐBSCL: Triển vọng nhiều, thách thức lắm!
2 giờ trướcBài gốc
Thu hoạch lúa trên cánh đồng lúa tôm Hợp tác xã Ba Đình, xã Vĩnh Lộc, tỉnh Cà Mau - Ảnh: Nông Văn Thạch
Chuyện từ một hợp tác xã
Ông Nguyễn Minh Cảnh - xã viên Hợp tác xã Ba Đình, xã Vĩnh Lộc, tỉnh Cà Mau - cho biết, gia đình ông có 2 ha đất sản xuất và tham gia canh tác theo lịch thời vụ chung của hợp tác xã. Theo đó, mỗi năm được phân chia thành 4 tháng trồng lúa và 8 tháng nuôi tôm, phù hợp với sự thay đổi mặn – ngọt của nguồn nước tự nhiên.
Trung bình mỗi năm, thu nhập từ mô hình tôm – lúa trên diện tích 2 ha của gia đình ông đạt khoảng 120–150 triệu đồng, sau khi trừ chi phí đầu tư khoảng 100 triệu đồng.
Phóng viên tìm đến những mô hình lúa tôm để phỏng vấn ở Cà Mau - Ảnh: Nguyễn Minh Cảnh
Theo ông Cảnh, việc tham gia hợp tác xã giúp xã viên tiếp cận kỹ thuật canh tác đồng bộ, tuân thủ lịch thời vụ chung và áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến như mô hình “3 giảm, 3 tăng”, canh tác theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao. Nhờ đó, chất lượng lúa và tôm được nâng lên, giảm rủi ro dịch bệnh và chi phí sản xuất.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, các xã viên HTX Ba Đình vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Đối với những diện tích đất canh tác nằm phía Bắc Quốc lộ 1, nguồn nước mặn phân bổ thất thường, gây khó khăn cho việc điều tiết môi trường nuôi tôm.
Hạ tầng giao thông chưa hoàn chỉnh, đường xe bốn bánh chưa tới được ruộng khiến chi phí vận chuyển tăng cao. Hệ thống điện chưa được kéo ngang cánh đồng HTX, hạn chế việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là các thiết bị sục khí, khiến tôm dễ thiếu oxy và khó vận chuyển đi xa.
Ngoài ra, kênh nội đồng chưa được nạo vét thường xuyên làm cho nước mặn không phân bố đều. Đáng chú ý, việc liên kết tiêu thụ sản phẩm với doanh nghiệp chưa ổn định, nhiều hợp đồng bao tiêu bị “vỡ kèo” khi giá lúa giảm, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân.
Tôm nuôi từ mô hình lúa tôm Cà Mau - Ảnh: T.L
Kỹ sư Nông Văn Thạch - Giám đốc HTX Ba Đình - cho biết, HTX hiện có 285 thành viên với tổng diện tích đất nông nghiệp 720 ha, trong đó phần lớn diện tích được canh tác theo mô hình tôm – lúa. Hiệu quả của mô hình thể hiện rõ ở việc sản phẩm lúa và tôm đạt tiêu chuẩn xanh, sạch, do đặc thù nuôi tôm không cho phép sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hóa học. Các loại vật tư đầu vào chủ yếu là sản phẩm sinh học và hữu cơ, góp phần bảo vệ môi trường đất và nước.
Dù vậy, HTX Ba Đình vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đối tác tiêu thụ ổn định; hạ tầng điện và giao thông chưa đồng bộ, gây trở ngại cho đầu tư cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ. Nguồn vốn vay phục vụ đầu tư trang thiết bị còn hạn chế do yêu cầu về tài sản thế chấp, trong khi trình độ nhân lực của HTX vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Kỹ sư Nông Văn Thạch trên cánh đồng tôm lúa HTX Ba Đình - Ảnh: V.K.K
Lịch sử phát triển mô hình tôm – lúa
Hệ thống canh tác tôm – lúa đã xuất hiện ở Việt Nam gần 50 năm, chủ yếu tại vùng ĐBSCL – nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất thủy sản.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, đặc biệt là tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra thường xuyên, nhiều vùng sản xuất lúa thuần không còn đạt hiệu quả kinh tế. Trước thực tế đó, mô hình tôm – lúa nổi lên như một giải pháp thích ứng linh hoạt, tận dụng quy luật mặn – ngọt theo mùa để chuyển đổi sinh kế bền vững.
Về mặt lịch sử, luân canh tôm – lúa ở ĐBSCL bắt đầu hình thành từ những năm 1970, khi người dân ven biển tận dụng nguồn tôm tự nhiên theo thủy triều trong mùa khô. Qua thời gian, kỹ thuật canh tác được cải tiến với việc đào mương bao quanh ruộng, chủ động lấy giống và ương nuôi, giúp nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế. Đến năm 2000, diện tích tôm – lúa toàn vùng đạt khoảng 89.495 ha; đến năm 2010, con số này tăng lên 153.482 ha.
Trong giai đoạn 2010–2020, diện tích nuôi tôm – lúa ở Việt Nam tăng trưởng trung bình khoảng 3,81% mỗi năm. Các địa phương như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và Cà Mau ghi nhận tốc độ mở rộng diện tích nhanh, lần lượt đạt 14,85%, 8,1%, 6,67% và 5,22%.
Đến năm 2020, tổng diện tích nuôi tôm – lúa ở ĐBSCL đạt 211.900 ha, chiếm 31,6% diện tích nuôi tôm nước lợ toàn vùng, với sản lượng tôm đạt 102.220 tấn, tương đương 13,6% sản lượng tôm nuôi nước lợ của vùng.
Mô hình lúa tôm đã xuất hiện ở ĐBSCL khoảng 50 năm nay - Ảnh: Internet
Đáng chú ý, sau năm 2000, sự phát triển nóng của nuôi tôm thâm canh đã gây ra nhiều hệ lụy môi trường như ô nhiễm nguồn nước, suy thoái đất và gia tăng dịch bệnh. Trước những tác động tiêu cực này, nhiều hộ dân đã quay trở lại mô hình tôm – lúa như một lựa chọn an toàn và bền vững hơn, góp phần cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ hệ sinh thái.
Khó vay vốn để đầu tư nông cơ và trang bị công nghệ đó là tình trạng chung ở các HTX tôm-lúa - Ảnh: Nông Văn Thạch
Nghiên cứu từ GIZ và đề xuất giải pháp
Hiện nay, mô hình tôm – lúa được đánh giá là phương thức canh tác tuần hoàn, hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, năng suất tôm – lúa nhìn chung vẫn còn thấp.
Ngoại trừ tỉnh Sóc Trăng áp dụng mô hình quảng canh cải tiến nâng cao và bán thâm canh với năng suất tôm đạt khoảng 0,96 tấn/ha, các địa phương khác chỉ đạt từ 0,3 đến 0,5 tấn/ha. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hạn chế về hạ tầng thủy lợi, trình độ kỹ thuật, năng lực quản lý và khả năng tiếp cận khoa học công nghệ.
Thương hiệu gạo từ lúa tôm - Ảnh: V.K.K
Bên cạnh đó, hệ thống thủy lợi ở nhiều nơi chưa đồng bộ, chưa kiểm soát hiệu quả hạn mặn; giao thông khó khăn làm hạn chế cơ giới hóa; thị trường tiêu thụ biến động mạnh, cạnh tranh cao; liên kết chuỗi giá trị còn yếu, khiến hiệu quả của nhiều mô hình chưa tương xứng với tiềm năng.
Nhằm đánh giá toàn diện vai trò, thuận lợi và thách thức của hệ thống tôm – lúa, Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) đã triển khai nghiên cứu cơ bản tại ĐBSCL. Nghiên cứu tập trung phân tích sự dịch chuyển chính sách, đặc điểm kỹ thuật, hiệu quả kinh tế, năng lực của nông dân và cơ quan quản lý, tổ chức sản xuất, thị trường và chuỗi giá trị. Trên cơ sở đó, GIZ đề xuất các giải pháp phát triển bền vững mô hình tôm – lúa theo hướng thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu.
Các giải pháp được đề xuất bao gồm đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi, giao thông và điện phục vụ sản xuất; tăng cường chuyển giao khoa học công nghệ; nâng cao năng lực quản lý cho hợp tác xã; xây dựng và củng cố liên kết chuỗi giá trị với doanh nghiệp tiêu thụ; đồng thời hoàn thiện chính sách tín dụng phù hợp với đặc thù sản xuất tôm – lúa.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, mô hình tôm – lúa không chỉ là giải pháp sinh kế cho người dân ven biển ĐBSCL mà còn là hướng đi chiến lược cho phát triển nông nghiệp bền vững, hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường của toàn vùng.
Văn Kim Khanh
Nguồn Một Thế Giới : https://1thegioi.vn/mo-hinh-tom-lua-o-dbscl-trien-vong-nhieu-thach-thuc-lam-245192.html