Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ trong Khu Di tích lịch sử cách mạng hang Co Phương.
1. Trước cửa hang cỏ cây u tịch, gió thổi nhẹ. Trên tấm bia tưởng niệm, những cái tên khắc vào đá đã mờ dần theo năm tháng, nhưng vẫn đủ rõ để người đời sau cúi đầu biết ơn.
Mới một năm trước, trong khói hương bảng lảng của Lễ tưởng niệm 71 năm ngày các liệt sĩ hy sinh tại hang Co Phương, tôi còn gặp bà Nguyễn Thị Ngọt (SN 1933) tóc bạc, lưng còng, chầm chậm bước lên bậc đá. Đến trước cửa hang, bà bất ngờ gục xuống ôm lấy tấm bia ghi địa danh, rồi bật khóc nức nở.
“Ba anh, tám chị của em ơi! Anh Hoằng, anh Phước, anh Toàn ơi! Chị Diễu, chị Hội, chị Mứt, chị Thiêm, chị Toản, chị Tố, chị Vân, chị Viên ơi! Em Út Ngọt lên với các anh chị đây”!. Tiếng gọi không còn là lời tưởng nhớ, tri ân. Nó giống như một cuộc trở về của một người em út, xóa nhòa ranh giới giữa người ở lại và người đã đi xa mãi mãi.
Đó là lần thứ 5, cũng là lần cuối cùng sau khi xảy ra cuộc thảm sát đau thương tại hang Co Phương bà Ngọt quay trở lại thăm những đồng đội mình đang yên giấc ngàn thu. Lần nào trở lại bà cũng sụt sùi nước mắt. Câu chuyện về hang Co Phương được bà kể lại chi tiết, chân thực và sống động trong niềm tự hào.
Theo tài liệu lịch sử và lời bà Ngọt, cận Tết Nguyên đán Quý Tỵ năm 1953, hơn 130 người quê Thiệu Hóa đã đăng ký lên đường tham gia dân công hỏa tuyến, phục vụ các chiến dịch: Thượng Lào, Tây Bắc. Qua tết, ngày 21 tháng Giêng (ngày 6/3/1953), họ được tổ chức thành 3 trung đội, rời quê hương Thiệu Hóa lên Vạn Mai, tỉnh Hòa Bình cũ (nay là xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) làm nhiệm vụ, với niềm tin giản dị: Góp một sức mình cho kháng chiến thành công.
Sau hơn 10 ngày xuyên rừng vượt dốc, họ mới có mặt trên công trường đắp cầu đường Vạn Mai, tổ chức đan sọt, gánh đá, đào đất, mở đường nối hậu phương Thanh Hóa lên vùng Thượng Lào để chi viện cho bộ đội ta thắng Pháp. Sau này, những con đường ấy nối tận lên chiến trường Tây Bắc, rồi góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
Đến ngày 31/3/1953, đoàn dân công của huyện Thiệu Hóa được điều động xuôi về làm cầu Phú Lệ, cách công trường cũ khoảng 10km. Để đảm bảo bí mật, việc làm cầu đắp đường chỉ diễn ra vào ban đêm, còn ban ngày họ nghỉ lại trong hang Co Phương (tên gọi khác là hang Co Phường) ngay tại chân công trường, nay thuộc bản Sại, xã Phú Lệ.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, hang Co Phương nằm trên tuyến chi viện chiến lược từ hậu phương lên vùng Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Đây vừa là kho, trạm quân lương, cũng là nơi trú quân của bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến... Ngay trước cửa hang có một cây khế to. Bởi vậy mà hang có tên Co Phương - cây khế, theo tiếng của đồng bào dân tộc Thái bản địa.
Ngày ấy, dù ở Vạn Mai hay về Phú Lệ, bà Ngọt nhỏ tuổi nhất, lại chăm chỉ siêng năng nên được phân công nấu ăn, giặt giũ quần áo cho tiểu đội. Thường ngày, ngoài lương thực được cấp, bà vẫn lặn lội hái rau rừng, bắt cá suối cải thiện bữa ăn cho tiểu đội. Buổi tối bà vẫn ra công trường làm việc.
Vào khoảng 12 giờ ngày 2/4, giặc Pháp cho máy bay trực thăng lượn sát ngọn cây khu vực bản Sại. Đến khoảng 3 giờ chiều, chúng đưa thêm 6 máy bay đến ném bom, bắn phá, đúng lúc cả tiểu đội đang trú trong hang. Chỉ bà Ngọt ra ngoài giặt giũ quần áo cho các anh, chị ngoài suối, cách hang Co Phương không xa. Sau những đợt bom đạn cày xới, cửa hang Co Phương bị sập, phong tỏa lối ra ngoài duy nhất của 11 dân công hỏa tuyến phía bên trong. Một người bị đá đè trúng nằm ở phía cửa hang cũng tử vong khi trên đường về xã Hồi Xuân cấp cứu. Bộ đội công binh và các lực lượng đã được huy động, nhưng chẳng có máy móc nào kéo được những tấm đá nặng hàng chục tấn ấy ra.
2. Trên tấm bia đá trong Khu Di tích lịch sử cách mạng hang Co Phương còn ghi tên, năm sinh của 11 dân công hỏa tuyến hy sinh năm ấy. Lần lượt là các liệt sĩ: Nguyễn Thị Diễu (SN 1933), Nguyễn Chi Hoằng (SN 1924), Nguyễn Thị Hội (SN 1933), Nguyễn Thị Mứt (SN 1932), Nguyễn Dụng Phước (SN 1919), Nguyễn Thị Thiêm (SN 1931), Nguyễn Chí Toàn (SN 1926), Nguyễn Thị Toản (SN 1932), Nguyễn Thị Tố (SN 1932), Nguyễn Thị Vân (SN 1935) và Nguyễn Thị Viên (SN 1932).
Tháng 4 này, tôi trở lại vùng quê Thiệu Nguyên cũ (nay là xã Thiệu Hóa) bình yên bên hữu ngạn sông Chu. Người kể chuyện năm trước đã không còn. Bà Nguyễn Thị Ngọt đã đi xa, như chính lời bà từng gọi: “Em Út Ngọt lên với các anh chị đây”.
Ông Nguyễn Dụng Khiên lần dở tài liệu về người cha của mình - liệt sĩ Nguyễn Dụng Phước hy sinh tại hang Co Phương.
Nhưng khúc tráng ca của những người dân công hỏa tuyến gửi lại thân mình trong hang Co Phương năm xưa vẫn âm ỉ chảy trong huyết quản của thân nhân, gia đình, dòng họ, trong mỗi người đang đi trong hòa bình hôm nay.
Dù tuổi cao, đã qua cái thời cảm xúc trào dâng vui buồn, nhưng thẳm sâu trong ông Nguyễn Dụng Khiên (SN 1946) ở thôn Nguyên Thịnh vẫn là những lời kể về người cha của mình - liệt sĩ Nguyễn Dụng Phước hy sinh tại hang Co Phương. Ông kể: “Khi bố hy sinh, tôi mới 7 tuổi, còn chưa cảm nhận được nỗi đau. Chỉ nhớ là mẹ khóc cả tháng trời. Càng lớn tôi càng thấm nỗi buồn mất bố. Nhưng chiến tranh mà”... Sau này lớn lên, mang theo ý chí của người cha xả thân vì Tổ quốc, ông Khiên tham gia vận tải đường sông, đường biển, chuyển lương thực thực phẩm vào miền Nam phục vụ bộ đội ta đánh Mỹ. Hòa bình, ông về tỉnh, công tác tại Xí nghiệp khảo sát thiết kế thủy lợi Thanh Hóa và nghỉ chế độ năm 1987. Chính ông cũng là người thực hiện các thủ tục đề nghị và được Nhà nước công nhận 11 dân công hỏa tuyến nằm lại trong hang Co Phương là liệt sĩ vào năm 1989. Cũng từ đó, gia đình ông và thân nhân các gia đình liệt sĩ đã làm giỗ cho 11 dân công hỏa tuyến hy sinh năm ấy vào cùng ngày 19 tháng 2 âm lịch.
Ông kể lại, đến khoảng năm 2010, Nhà nước có chủ trương cất bốc, quy tập 11 hài cốt liệt sĩ hy sinh tại hang Co Phương về đất mẹ Thiệu Nguyên. Nhưng ông và thân nhân các gia đình đã thảo luận, thống nhất để họ lại với hang Co Phương, với núi rừng, để mãi mãi là đồng đội của nhau.
Kể rồi, ông Khiên chầm chậm thắp nén hương thơm, như thêm một lần tri ân về người cha rất đỗi tự hào.
3. Gió nhẹ, thảng qua núi rừng Phú Lệ, tôi trở lại cửa hang Co Phương trong vạt nắng cuối ngày vương trên vách đá. 11 dân công hỏa tuyến năm ấy đã không về đất mẹ. Họ ở lại đó, mãi mãi tuổi 20. Và ở lại trong sự lặng im của những người đứng trước cửa hang như tôi, trong một buổi chiều tháng 4 hoa nắng...
Ghi chép của Đỗ Đức