Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước: 'Mệnh lệnh chiến lược' đưa ngành ngân hàng dẫn dắt phát triển

Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước: 'Mệnh lệnh chiến lược' đưa ngành ngân hàng dẫn dắt phát triển
7 giờ trướcBài gốc
Từ "trụ cột ổn định" đến khát vọng vươn tầm châu lục
Giai đoạn 2021 - 2025 là một chu kỳ đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam và của ngành ngân hàng. Đại dịch Covid-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, xung đột địa chính trị, lạm phát toàn cầu và chính sách tiền tệ thắt chặt ở các nền kinh tế lớn đã đặt hệ thống ngân hàng trước áp lực chưa từng có: vừa giữ ổn định vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng đã hoàn thành tốt vai trò trụ cột ổn định kinh tế: lạm phát được kiểm soát, thanh khoản hệ thống được duy trì, tỷ giá tương đối ổn định, tín dụng được điều tiết linh hoạt để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Tổng tiền gửi toàn hệ thống tăng đều qua các năm, khẳng định ngân hàng vẫn là mạch máu chủ đạo của nền kinh tế.
Nghị quyết số 79-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản. Ảnh: Trần Việt
Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào thực chất, vai trò “mạch máu” ấy vẫn chưa thực sự khỏe mạnh và chưa được nhìn rõ toàn bộ.
Thứ nhất, tầm vóc khu vực của hệ thống ngân hàng Việt Nam còn hạn chế. Dù các ngân hàng thương mại nhà nước nắm giữ quy mô tài sản lớn nhất hệ thống, đến nay vẫn chưa có ngân hàng nào chính thức lọt vào Top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Năng lực quản trị, công nghệ, quản lý rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn của nhiều ngân hàng vẫn còn khoảng cách so với chuẩn mực khu vực và quốc tế (theo các xếp hạng Asian Banker, S&P, Moody’s, 2024 - 2025).
Thứ hai, dòng chảy tiền tệ của nền kinh tế chưa minh bạch và chưa được “soi chiếu đầy đủ”. Một bộ phận rất lớn nguồn lực vẫn vận hành ngoài hệ thống ngân hàng. Khu vực kinh tế ngầm (bao gồm hoạt động ngoài sổ sách và một phần hoạt động bất hợp pháp) ước chiếm khoảng 25 - 30% GDP của Việt Nam, tương đương 125 - 153 tỷ USD mỗi năm, bình quân là 139 tỷ USD mỗi năm nếu GDP bình quân khoảng 485 - 516 tỷ USD vào năm 2025 (theo các nghiên cứu độc lập bằng phương pháp hồi quy số liệu). Đây là một con số rất lớn, phản ánh việc mạch máu kinh tế còn nhiều đoạn “ẩn”, không được nhìn rõ, không được kiểm soát, và chính vì thế không thể khơi thông hiệu quả.
Thứ ba, chất lượng tăng trưởng tín dụng và phân bổ nguồn lực chưa thật sự bền vững. Dòng vốn tín dụng vẫn có xu hướng tập trung vào các khu vực rủi ro chu kỳ cao như bất động sản, với dư nợ tín dụng bất động sản chiếm khoảng 23,7% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống - một tỷ lệ rất lớn so với các ngành sản xuất và đổi mới. Trong khi đó, tín dụng dành cho các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, kinh tế số và tài chính xanh còn rất hạn chế, với tín dụng xanh chỉ chiếm khoảng 4,3 - 4,4% tổng dư nợ; và tín dụng cho nền kinh tế số/đổi mới sáng tạo còn thấp hơn nhiều so với tiềm năng đóng góp của các lĩnh vực này vào GDP.
Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước ra đời như một mệnh lệnh chiến lược, đặt ra yêu cầu nâng tầm hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các tổ chức tín dụng nhà nước, lên một vai trò mới: không chỉ ổn định, mà phải kiến tạo, dẫn dắt phát triển.
Nghị quyết xác định rõ mục tiêu: có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc Top 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, giữ vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng. Đây không chỉ là mục tiêu về quy mô, mà là mục tiêu về vị thế, sứ mệnh và trách nhiệm lịch sử của ngành ngân hàng trong giai đoạn đất nước đang nỗ lực vươn mình phát triển.
Ba "xung lực" đột phá đưa ngân hàng phát triển
Ngành ngân hàng không đơn thuần là một ngành kinh doanh tài chính. Trong cấu trúc của nền kinh tế, ngân hàng chính là mạch máu của nền kinh tế. Một nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu hệ thống ngân hàng không nhìn rõ “mạch máu tiền tệ”, không kiểm soát được dòng tiền, và không khơi thông được các nguồn lực đang bị kẹt lại trong khu vực phi chính thức.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh thì sứ mệnh phụng sự đất nước càng phải được thực thi sâu sắc và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Đặc biệt, các ngân hàng thương mại nhà nước - với vị thế, quy mô và nguồn lực được nhà nước giao phó, phải đóng vai trò đầu tàu, được ví như “quả đấm thép” của nền kinh tế để dẫn dắt thị trường, điều tiết dòng vốn, can thiệp khi cần thiết để ổn định hệ thống và mở đường cho các xu thế phát triển dài hạn.
Hiện, phát triển bền vững là xu thế không thể đảo ngược. Ngân hàng không thể tiếp tục chỉ đo thành công bằng lợi nhuận ngắn hạn. Tài chính xanh phải trở thành trụ cột thực chất, không phải khẩu hiệu.
Và cao hơn, tài chính phải nâng cao chất lượng sống của toàn dân; không để ai bị bỏ lại phía sau - đó chính là triết lý “tài chính hạnh phúc cho toàn thể nhân dân”.
Để ngành ngân hàng thực hiện thành công sứ mệnh phụng sự đất nước, trước hết, đề án không dùng tiền mặt, tài chính số, tài sản số phải được thực thi quyết liệt chứ không dừng lại ở khẩu hiệu và hành động nửa vời. Đây không chỉ là vấn đề tiện ích, mà là đòn bẩy chiến lược để kéo kinh tế ngầm “nổi lên”, mở rộng cơ sở thu ngân sách, tạo nguồn lực mạnh mẽ cho đầu tư đột phá đối với lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục, y tế và nâng cao đời sống nhân dân. Thanh toán số, ngân hàng số, dữ liệu tài chính thời gian thực phải trở thành hạ tầng thiết yếu của quốc gia, giống như điện và nước.
Thứ hai, tài chính xanh phải là hành động bắt buộc. Ngân hàng Nhà nước cần chuyển từ định hướng sang chỉ tiêu hành động theo giai đoạn: tỷ trọng tín dụng xanh, tiêu chuẩn quản trị rủi ro môi trường - xã hội, lộ trình giảm tài trợ cho các ngành gây tổn hại dài hạn. Và lúc này, ngân hàng phải là một bộ lọc dòng vốn - dẫn vốn vào tương lai bền vững.
Thứ ba, tài chính hạnh phúc phải trở thành trách nhiệm chính trị - xã hội của toàn ngành. Tài chính toàn diện cho vùng sâu, vùng xa, nông thôn, hải đảo, người yếu thế, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh. Đây không phải là hoạt động phụ trợ, mà là một phần sứ mệnh phụng sự phát triển đất nước.
Mỗi ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại nhà nước cần xác lập mục tiêu dài hạn rõ ràng; gắn chỉ tiêu kinh doanh với chỉ tiêu phát triển bền vững và hạnh phúc nhân dân.
TS. Vũ Hồng Thanh, chuyên gia kinh tế
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/nghi-quyet-so-79-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc-menh-lenh-chien-luoc-dua-nganh-ngan-hang-dan-dat-phat-trien-10404088.html