Ngựa trong di tích, lễ hội Xứ Lạng

Ngựa trong di tích, lễ hội Xứ Lạng
5 giờ trướcBài gốc
Rước ngựa trắng, ngựa hồng trong lễ hội đền Bắc Lệ (xã Tân Thành)
Trong đời sống của người Việt, ngựa là con vật vốn rất gần gũi, thân thuộc. Dân gian xếp ngựa vào nhóm “lục súc” – sáu vật nuôi trong nhà gồm: trâu/bò/ngựa, dê/cừu, chó, mèo, lợn, gà. Người Việt quan niệm ngựa là loài vật thanh khiết bởi chúng có đặc tính sống trên núi cao, ăn cỏ mọc tự nhiên và uống nước suối. Ngựa cũng tượng trưng cho trí tuệ, đức tính hiền hòa, lòng trung thành và sức mạnh... Đó là loài vật có vai trò rất lớn trong đời sống của con người. Thời kỳ lịch sử trung - cận đại, ngựa là phương tiện giao thông chủ yếu của con người, là bạn đường của quân sĩ, sứ giả trên những nẻo xa vạn dặm. Ngựa chuyên chở hàng hóa thay cho sức người. Ngựa biểu trưng cho giàu sang, quyền quý trong câu nói của người xưa “Lên xe xuống ngựa” bởi trước đây thường chỉ người giàu mới đi ngựa. Trong đời sống tâm linh, ngựa luôn gắn với các vị thánh thần, các bậc chân tu để tạo nên hình ảnh những con người cao sang, đầy quyền năng và sức mạnh. Hình ảnh các vị thánh thần oai phong cưỡi trên lưng ngựa, dắt ngựa vi hành đã trở thành một biểu tượng văn hóa cao quý, đẹp đẽ trong tâm thức người Việt. Ở Lạng Sơn, chúng ta thường bắt gặp hình ảnh ngựa trên các bức chạm đá, bích họa, trên áo hành lễ, ấn tín, tranh thờ của thầy mo, then các dân tộc thiểu số: Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Chỉ… Tượng trưng cho sức mạnh, tài lộc và thành công, ngựa được thờ cúng trong đền, miếu, là linh vật được diễn diễu trong các đám rước của lễ hội.
Trong các di tích tín ngưỡng ở Lạng Sơn, rất ít khi thấy sự tồn tại của ngựa với tư cách tượng tròn như ở các tỉnh miền xuôi. Ngựa xuất hiện chủ yếu dưới dạng phù điêu, đồ mã. Bức chạm đá hình ngựa sớm nhất hiện biết là hình trang trí điển tích Trung Hoa ở chân bia đền Tả Phủ (phường Kỳ Lừa) có niên đại năm Chính Hòa thứ nhất (1683), đời vua Lê Hy Tông. Trong bức hình minh họa cảnh thầy trò Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh có hình bóng của con ngựa đóng yên cương rất đỗi trung thành, cần mẫn rảo bước phía sau cùng. Hình ảnh ngựa vừa gần gũi với đời thường, vừa mang ý niệm thiêng liêng đó cho ta cảm xúc sâu đậm về loài vật thân thuộc mà cao cả.
Hình ảnh ngựa chiến tại di tích đền Gốc Sung (khu 3, xã Thất Khê)
Sau đó khoảng gần một thế kỷ, chúng ta lại bắt gặp hình tượng ngựa trong một đồ án trang trí khác tại di tích chùa Tam Giáo (phường Tam Thanh). Năm 1779, khi chọn biểu tượng Phật giáo để thờ cùng đạo Nho, đạo Giáo, quan Đốc trấn Lạng Sơn Ngô Thì Sĩ (1726 -1780) đã cho tạc trên vách đá hình một người cưỡi ngựa trắng đi trước, phía sau là tiểu đồng cầm gậy tầm xích và một người cầm bộ kinh Kim cương. Bên cạnh đó là dòng chữ Hán “Đại thánh xuất yên” (Bậc đại thánh ra đời). Hình ảnh ngựa trắng ở đây vừa biểu hiện cho sự thanh khiết, tôn quý của đạo Phật, vừa tượng trưng cho ánh sáng, hạnh phúc của Phật pháp khi đến với chúng sinh. Đó là những bức chạm ngựa cổ nhất ở Lạng Sơn chứa đựng giá trị nhiều mặt về lịch sử, mỹ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng…
Tại các di tích, qua thư tịch cổ, chúng ta thấy thấp thoáng bóng dáng ngựa của các sứ giả ở nơi cổng đền, miếu. Sách Lạng Sơn Đoàn Thành đồ do Tể tướng Nguyễn Nghiễm biên soạn năm 1758 có nhắc đến hình ảnh những con ngựa của sứ giả mỗi khi đến các ngôi đền thiêng “Phàm các sứ thần, khi ngựa mã qua đây, đều phải cáo yết, sau đó mới qua sông…”. Mỗi khi chuẩn bị vào các ngôi đền cáo yết theo lệ, sứ giả xuống ngựa (hạ mã) để vào làm lễ.
Tại một số ngôi đền, ngựa được bài trí ở các cung thờ gắn bó mật thiết với các vị thần được thờ. Thôn Khòn Pựt, xã Hoàng Đồng là nơi có ngôi đền thờ Đoàn Thị Trúc. Bà được vua Minh Mệnh phong làm liệt nữ năm 1833 vì đã quyên sinh để giữ trọn phẩm hạnh, trinh tiết, được nhân dân lập đền thờ. Trong ngôi đền này có sự hiện diện của đôi ngựa trắng ở trên bức tường gian Hậu cung – nơi đặt ban thờ Đoàn Thị Trúc. Ngựa được tạo tác dưới dạng phù điêu theo xu hướng tả thực, đứng chầu hai bên ban thờ trong tư thế đối nhau. Hình dáng ngựa trắng đầy đặn, uyển chuyển đứng dưới lọng che tượng trưng cho sự trinh bạch, cao quý của người được thờ phụng, đúng với ý nghĩa bốn chữ vàng đã được nhà vua ban tặng “Đoàn Thị trinh nữ”. Tại đền Gốc Sung (phố Vàng Cai, khu 3, xã Thất Khê) thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, cũng có một đôi ngựa tía chầu dưới dạng phù điêu trên tường giống đền Thị Trúc. Hình ảnh đôi ngựa chiến màu đỏ sẫm đầy dũng mãnh bài trí cùng đồ Bát bửu làm tăng thêm vẻ uy phong của Đức thánh Trần – vị võ tướng lẫy lừng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Trong các di tích thờ Mẫu ở Lạng Sơn, hình tượng ngựa thường xuất hiện dưới dạng đồ thờ và đồ mã. Ngựa trong đạo Mẫu là một hiện tượng rất tiêu biểu của văn hóa Việt, thường được gọi hết sức tôn kính là “Ông ngựa”. Tại đền Đèo Kẻng (xã Tân Thành) có một đôi ngựa (một màu trắng và một màu vàng) to gần bằng ngựa thật đứng chầu trước ban thờ Bà chúa Sơn trang. Ngựa làm bằng giấy bồi dày trong tư thế hướng mặt về ban thờ: chân đứng thẳng, đầu ngẩng cao, lưng có yên cương bằng giấy màu, có thêm đôi cánh để bay ở miền thượng giới. Ngựa trắng và ngựa vàng tượng trưng cho uy linh của các vị thần, cho tương sinh để mang lại sự phát triển tốt đẹp, thành công và thịnh vượng.
Trong ngày hội đền Bắc Lệ (xã Tân Thành) ngày 20 tháng 9 âm lịch, nghi thức rước Thánh Mẫu và đức Phật từ đền Bắc Lệ đến đền Đèo Kẻng và sau đó hồi cung có một đôi ngựa trắng, ngựa hồng đi ngay sau đội cờ, trống. Ngựa được làm bằng gỗ đặt trên bốn bánh xe, bên cạnh che lọng vàng có tua rủ đầy vẻ sang quý. Yếu tố linh vật của đôi ngựa thể hiện rõ ở bốn chân đi hài, yên cương và yếm được may bằng vải trắng, thêu chỉ màu hình rồng, mây và đính kim sa óng ánh tạo vẻ linh thiêng, thoát tục. Đôi ngựa được rước đi trong niềm hân hoan, thành kính của các con nhang, đệ tử và Nhân dân thể hiện sự linh thiêng của thánh Mẫu như lan tỏa phúc lộc đến muôn nhà.
Với ý nghĩa “trần sao, âm vậy”, trong các cuộc đi lễ, hầu đồng, hầu bóng, các con nhang, đệ tử cung tiến rất nhiều ngựa mã. Đó là những con ngựa làm bằng khung tre, dán giấy màu sặc sỡ với nhiều hình dáng, tư thế khác nhau rất sinh động. Việc dâng cúng ngựa gắn với ý niệm là để các vị thánh Mẫu, quan Hoàng có phương tiện đi lại giữa trần gian và các miền hành đạo, cứu giúp cho đời. Ngựa trở thành linh vật kết nối giữa con người với thế giới thần linh. Qua đó thể hiện tấm lòng tôn kính của chúng sinh đối với các vị thánh thần, mong được phù trợ, ban cho bình an, may mắn, tài lộc... Trong nghi lễ hầu đồng Tứ phủ, mâm lễ thường có 5 con ngựa với 5 màu khác nhau: trắng, xanh, đen, đỏ, vàng tượng trưng cho ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Xong nghi lễ cúng, ngựa mã sẽ được hóa luôn để gửi tới các bậc thánh thần. Tại các đền, chùa khác, trong các nghi thức cúng lễ cũng dâng rất nhiều ngựa mã. Thông qua lễ vật dâng cúng, họ gửi gắm đức tin, ước vọng bình an, may mắn, phát đạt và thăng tiến.
Ngựa là linh vật có tính phổ quát cao trong các di tích tín ngưỡng, lễ hội ở Lạng Sơn. Xuất hiện ở không gian thiêng, ngựa mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, thể hiện triết lý nhân sinh về cõi tục và cõi thiêng của người dân Xứ Lạng. Đó là một biểu tượng sáng đẹp, giàu bản sắc của văn hóa truyền thống Lạng Sơn.
CHU QUẾ NGÂN
Nguồn Lạng Sơn : https://baolangson.vn/hinh-anh-ngua-trong-di-tich-le-hoi-xu-lang-5071421.html