Với mục tiêu tăng trưởng khoảng 3,7%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD, ngành đang thúc đẩy tái cơ cấu toàn diện theo hướng sinh thái, bền vững, hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và đáp ứng các chuẩn mực ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Mục tiêu tăng trưởng gắn với bền vững
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, biến đổi khí hậu diễn biến ngày càng cực đoan, yêu cầu về phát triển xanh và bền vững trở thành xu thế tất yếu, nông nghiệp Việt Nam bước vào năm 2026 với một tâm thế mới: không chỉ đảm đương vai trò bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và sinh kế cho hàng chục triệu người dân nông thôn, mà còn được kỳ vọng trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế theo mô hình xanh, tuần hoàn và giá trị gia tăng cao.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam cho biết: Những kết quả đạt được trong năm 2025, với kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước đạt trên 70 tỷ USD, xuất siêu gần 21 tỷ USD, đã tạo nền tảng quan trọng để ngành bước vào giai đoạn phát triển mới. “Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò là “trụ đỡ” của nền kinh tế, nhưng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị”, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh.
Năm 2026, ngành Nông nghiệp đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 3,7%; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 73 - 74 tỷ USD; tiếp tục duy trì xuất siêu ở mức cao. Cùng với đó là các chỉ tiêu quan trọng về phát triển nông thôn và môi trường như: phấn đấu có ít nhất 15% số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo bộ tiêu chí giai đoạn mới; khoảng 62% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn đô thị đạt khoảng 95%; tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức khoảng 42%.
Những mục tiêu này cho thấy tư duy phát triển của ngành không còn thuần túy chạy theo sản lượng, mà hướng tới sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, đúng với tinh thần phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã xác định.
Một trong những trụ cột quan trọng của tăng trưởng xanh là tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Thay vì sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, ngành đang tập trung hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và liên kết chặt chẽ giữa nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp.
Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhận định rằng, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị là giải pháp then chốt để nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. “Phải chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, trong đó lấy thị trường làm định hướng, lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo, lấy doanh nghiệp và hợp tác xã làm hạt nhân liên kết nông dân”, ông nói.
Cùng với đó, phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, kinh tế tuần hoàn được xác định là hướng đi lâu dài, vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa phù hợp với xu thế tiêu dùng xanh trên thế giới.
Khoa học - công nghệ và chuyển đổi số được coi là “đòn bẩy” quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh. Từ ứng dụng công nghệ cao trong chọn tạo giống, canh tác thông minh, tiết kiệm nước, giảm phát thải, đến việc số hóa dữ liệu đất đai, cây trồng, vật nuôi, truy xuất nguồn gốc, tất cả đều nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng quản trị chuỗi cung ứng.
Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam, việc phát triển nông nghiệp xanh không thể tách rời ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. “Khoa học - công nghệ, chuyển đổi số phải trở thành nền tảng để ngành nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế”, ông khẳng định.
Biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức lớn đối với sản xuất nông nghiệp, nhất là tại các vùng trọng điểm như Đồng bằng sông Cửu Long, Duyên hải miền Trung, miền núi phía Bắc. Vì vậy, phát triển nông nghiệp xanh gắn chặt với các giải pháp thích ứng, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất, nước, rừng và bảo tồn đa dạng sinh học.
Các chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với điều kiện hạn hán, xâm nhập mặn; phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững; bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng ngập mặn… không chỉ góp phần ổn định sản xuất mà còn đóng vai trò quan trọng trong giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu.
Bên cạnh tái cơ cấu sản xuất và ứng dụng khoa học - công nghệ, hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trong nông nghiệp cũng được xác định là động lực quan trọng của tăng trưởng xanh.
Việc xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, tín dụng xanh, phát triển thị trường carbon, cùng với phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm người đứng đầu, sẽ tạo điều kiện để thu hút mạnh mẽ hơn nguồn lực xã hội vào lĩnh vực nông nghiệp.
Động lực mới cho phát triển giai đoạn 2026 - 2030
Nhìn tổng thể, năm 2026 không chỉ là năm mở đầu một kế hoạch 5 năm mới, mà còn là thời điểm để ngành Nông nghiệp định hình rõ nét hơn vai trò của mình trong mô hình tăng trưởng của nền kinh tế. Từ một “trụ đỡ” truyền thống, nông nghiệp đang từng bước trở thành một “động lực tăng trưởng xanh”, đóng góp cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nước hàng đầu thế giới về an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản.
(Ảnh minh họa)
Cùng với các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, Bộ NN&MT đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều từ 1 - 1,5%; tối thiểu 15% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn; 62% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn; tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định khoảng 42%.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Bộ NN&MT triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo Nghị quyết số 01 và 02 của Chính phủ, xác định tái cơ cấu sản xuất gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng là nhiệm vụ trọng tâm. Trọng tâm là phát triển dựa trên năng suất, chất lượng và đổi mới sáng tạo, lấy khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và tổ chức lại sản xuất làm động lực chính.
Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhận định, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, bền vững là con đường tất yếu. “Phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại, hội nhập sâu chuỗi giá trị toàn cầu không chỉ là yêu cầu trước mắt, mà là chiến lược lâu dài để nông nghiệp Việt Nam phát triển ổn định, nâng cao đời sống nông dân và đóng góp ngày càng lớn cho nền kinh tế”, ông nhấn mạnh.
Bộ NN&MT tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm người đứng đầu; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Cải cách thủ tục hành chính được thực hiện theo hướng dựa trên dữ liệu, không phụ thuộc địa giới hành chính, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Trong bối cảnh toàn cầu hướng tới phát triển bền vững và trung hòa carbon, phát triển nông nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu là xu thế tất yếu của Việt Nam. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nền tảng lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Những mục tiêu ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2026 cụ thể như: Tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành: khoảng 3,7%. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản: 73 - 74 tỷ USD. Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới: từ 15% trở lên. Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn: khoảng 62%. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn đô thị: khoảng 95%. Tỷ lệ che phủ rừng: duy trì khoảng 42%. Trong đó, nền tảng là chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, giá trị cao; lấy khoa học - công nghệ và thể chế làm đòn bẩy, thích ứng biến đổi khí hậu và hội nhập sâu chuỗi giá trị toàn cầu.
Gia Hồng