Trồng được một giàn mướp khía ở đảo là việc khá kỳ công, vì không có tre để làm giàn. Ảnh: Lê Văn Chương
Củ, ngô thay lúa
Tại khu vực giữa đảo Phú Quý (đặc khu Phú Quý), nếu rẽ khỏi tuyến đường men theo ven bờ biển và tạt vào trong cánh rừng ngũ trảo um tùm, mọi người sẽ thấy hiện ra trước mắt mình một khung cảnh hoàn toàn khác biệt so với bức tranh hằng ngày khách du lịch thường dạo chơi, ngắm biển. Đó là những ngôi nhà nhỏ thấp thoáng giữa nương rẫy. Từng khu vườn trồng củ lang tươi tốt đến lạ kỳ. Anh Nguyễn Văn Hùng, một nông dân giơ một chùm dây khoai lang và cho biết, cành lá to, mập hơn dây khoai lang trong đất liền, vì vậy, củ khoai lang rất thơm ngon.
Loại củ khoai lang ở đảo Phú Quý được pha trộn giữa giống khoai lang cam và khoai lang trắng. Hương vị khoai lang thơm, vị ngọt, rất bùi, nếu nướng lên thì tỏa mùi thơm ngát. Nhìn đôi tay cần mẫn của anh Nguyễn Văn Hùng vun xới luống củ, tôi nhớ đến anh Lê Văn Sáu, người dân ở xã đảo Sinh Tồn, đặc khu Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa. “Mảnh vườn” của gia đình anh Sáu chỉ gói gọn hơn 6m2 để trồng cây rau thơm, ớt, cà. Càng ra đảo xa, càng cảm nhận được sự cần mẫn của những người nông dân và rau xanh là thứ quý giá đến nhường nào.
Bà Huỳnh Thị Thương (70 tuổi) bê rổ củ khoai lang và giới thiệu với tôi câu chuyện về củ khoai lang Phú Quý luôn gắn với ký ức của bao người dân sống trên đảo. Bà cho biết, vì đảo Phú Quý nằm rất xa đất liền (56 hải lý) nên mấy chục năm trước đây, người dân ở đảo phải xác định tự cấp, tự túc. Bởi lúc đó, ghe buồm từ đất liền ra tới đảo có khi mất cả ngày; nếu gió không thuận thì có khi 2 ngày. Vì vậy, người dân đảo luôn phải chọn thời tiết, canh nắng, canh mưa để xác định tháng nào trồng củ khoai lang, trồng ngô, trồng đậu. Củ khoai lang từng là lương thực thay cơm gạo của dân đảo.
Tại khu vực gần bãi Lăng, lão ngư dân Phạm Thại và vợ đeo 2 chiếc giỏ sau lưng để lên nương rẫy. Ông Thại kể rằng, đối với dân ở đảo, gọi là ngư dân cũng được, gọi là nông dân cũng được, bởi phần lớn mọi người phải làm cả 2 mặt thì mới tồn tại được ở đảo suốt mấy trăm năm nay. Nghe chuyện của ông Thại, tôi nhớ đến cụ Huỳnh Do, từng giữ cương vị Chủ tịch UBND huyện đảo Phú Quý kể chuyện vừa trồng ngô, củ, vừa phải đi biển và có khi cả năm mới được ăn cơm vài lần. Thế nhưng bà con nông dân vẫn thi vị hóa cuộc sống bằng bài vè với nụ cười: “Nghe vẻ nghe ve/ Nghe vè loài cá/ No lòng phỉ dạ/ Là con cá cơm/ Không ướp mà thơm/ Là con cá ngát...”.
Trữ nước cho cây
Lượng du khách ra đảo Phú Quý mỗi năm một đông, từ con số vài chục nghìn, nay đã trên 400.000 người/năm. Người dân đảo nhờ đó có thêm thu nhập từ nghề du lịch, dịch vụ. Tuy nhiên, khách đông thì lại lo thiếu nước ngọt. Tại đảo có 7 công trình cấp nước sinh hoạt gồm 2 nhà máy nước với lưu lượng khai thác khoảng 1.200m3/ngày và 5 giếng khai thác từ 60-180m3/ngày cho dân số hơn 32.000 người. Lo ngại tình hình nước ngọt tụt giảm mạnh, nguy cơ diễn ra nước nhiễm mặn như ở đảo Lý Sơn, chính quyền đã có kế hoạch xây dựng 3 hồ chứa nước ngọt có tổng dung tích 125.000m3. Dự án được Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030.
Bà Nguyễn Thị Thanh bên hàng rào bảo vệ vườn rau xanh trước 2 mùa gió ở đảo. Ảnh: Lê Văn Chương
Lang thang ở xóm làng nằm ẩn giữa rừng ngũ trảo giữa lòng đảo, khi gặp bà con nông dân, tôi thường được mọi người khoe thành quả canh tác và nguồn rau xanh tại chỗ. Bà Nguyễn Thị Thanh cho biết, ở đảo mà trồng được rau để ăn, trồng thêm các loại cây ăn quả, sau đó bán và có thêm thu nhập, đó là công sức, sự cần mẫn, phải thức khuya, dậy sớm, chứ hoàn toàn không giống với cách canh tác của bà con nông dân ở trong đất liền.
Trong khu vườn nhỏ của gia đình bà Thanh, người chồng là ông Trần Văn Đính đang hì hục xây dựng thêm các công trình tích trữ nước mưa. Ông Đính cho biết, người dân ở đảo học tập thêm cách trồng rau xanh của bộ đội đóng quân trên đảo; có hai loại cây mà bộ đội hay trồng là mướp khía và đu đủ. Vào năm 2010, Trung tâm Thông tin và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tỉnh Bình Thuận (cũ) từng triển khai Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng và phát triển mô hình sản xuất rau trên đất cát”. Tổng diện tích sản xuất rau áp dụng khoa học kỹ thuật mới tại 150 vườn rau, tổng diện tích gần 15.000m2. Từ những kiến thức được đào tạo, cộng với kinh nghiệm dân gian, bà con nông dân ở đảo tiếp tục canh tác những vườn rau trên đất đảo.
Nuôi dông biển để thoát nghèo
Ông Nguyễn Năng ôm một bó lưới cũ đi vào khu vườn nằm sâu trong rừng ngũ trảo. Ban đầu, tôi ngỡ ông cũng giống như các hộ dân khác, quây vườn để trồng rau xanh. Nhưng rồi ông Năng giới thiệu cho tôi biết, khu vườn toàn cát trắng, không có một bóng cây, rau xanh nào, đó là khu nuôi nhốt con dông biển. Dường như quen với tiếng bước chân của ông Năng nên đám dông biển thập thò, vài con chui ra khỏi hang.
Tôi nhớ đến hình ảnh con dông biển ở tận đảo Thổ Chu, tỉnh An Giang được nhiều người bắt về nhà, nhưng con dông to như bắp chân và có tên gọi là con cà cưỡng. Còn con dông ở đảo Phú Quý chỉ to hơn ngón tay cái. Nếu nuôi trong khoảng 9 tháng, 4 con dông sẽ đạt trọng lượng gần 1kg. Bán dông tại vườn cho các quán làm món dông nướng phục vụ du khách, giá bán ra khoảng 500.000 đồng/kg.
Đi qua những ngôi nhà nằm trong rừng ngũ trảo, thỉnh thoảng lại bắt gặp những gia đình tăng thêm diện tích bằng trồng rau trong thùng xốp, ảng cây. Hình ảnh này làm tôi nhớ khu vườn rau xanh trên Nhà giàn DK1. Để trồng được một ảng cây, có khi nửa đêm anh em lính cũng phải chạy sang kiểm tra, khi nghe tiếng gió Đông Nam thổi phùng phùng như sắp có bão. Ở đảo Phú Quý cũng giống như vậy. Vì cách đất liền rất xa, nên mỗi năm ở đảo có 2 mùa gió. Có khi ngày nắng, nhưng đêm về gió thổi bạt người. Đó là lúc những người nông dân cảm thấy lo thon thót cho những vườn rau xanh. Nếu vườn rau nhỏ thì có thể che chắn, còn vườn rau lớn thì chỉ trông chờ vào hàng rào ngũ trảo. Sống ở nơi thời tiết khắc nghiệt, vườn phải làm bờ chắn gió. Thế nhưng các lão nông ở đảo vẫn yêu đời, lúc gặt hái được mùa thì lại ngâm nga câu vè: “Dừa Tam Thanh uống nước trong xanh/ Phải duyên em chọn nên đành phải theo”.
Lê Văn Chương