Liên quan quan điểm cho rằng, ngày 23 tháng Chạp không phải là ngày cúng ông Công ông Táo mà là ngày cúng Thần Bếp, trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Bùi Xuân Đính cho hay, ông không phủ nhận giao lưu, tiếp biến văn hóa. “Nhưng những gì là cái gốc thì chúng ta phải định rõ và giữ lấy nó”, ông nhấn mạnh.
PGS.TS Bùi Xuân Đính. Ảnh: NVCC.
Nguồn gốc văn hóa thờ Thần Bếp
PGS.TS Bùi Xuân Đính cho hay, ngày xưa, ở nông thôn (và cả một phần đô thị), người ta đun nấu bằng bếp rơm, rạ (ở đô thị chủ yếu đun bằng củi và trấu). Mỗi nồi được đặt trên ba ông vua bếp (ông đầu rau) nặn bằng đất sét. Vì đun rơm, rạ và củi, nhà chủ yếu là lợp tranh hay rạ, dễ xảy ra hỏa hoạn, các gia đình phải lập bàn thờ thần Bếp để cầu mong sự yên lành cho bếp, cũng cầu mong cho gia đình luôn được sung túc.
Bàn thờ thần Bếp thường là tấm gỗ treo ở tường gian giữa của bếp, cách xa mái tranh để phòng hỏa hoạn khi thắp hương. Trên bàn thờ chỉ có một bát hương. Về sau, có lẽ do thường xảy ra hỏa hoạn vì không cẩn thận khi thắp hương và do không tiện lợi nên phần đông các gia đình đã bỏ bàn thờ thần Bếp (hay nhập với bàn thờ gia tiên; hoặc chỉ thờ vua bếp/có thể là hòn đá thiêng ở cạnh bếp?).
Tại nhiều làng xã ở các huyện Quốc Oai, Thạch Thất (tỉnh Sơn Tây, nay thuộc Thành phố Hà Nội) - vùng Việt, Mường cổ, đến đầu thập niên 1960 vẫn còn nhiều gia đình có bàn thờ thần Bếp. Tại các làng người Thổ - tộc người có cùng nguồn gốc với người Việt và người Mường ở tỉnh Nghệ An (khu vực huyện Nghĩa Đàn cũ), đến năm 2013, tôi khảo sát vẫn còn nhiều gia đình có bàn thờ thần Bếp treo ở tường gian giữa của bếp và ngày 23 tháng Chạp vẫn sửa lễ thắp hương tại đây.
Ở người Mường (vùng các huyện Cao Phong, Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình cũ, nay là tỉnh Phú Thọ) vào ngày 22 tháng Chạp (ứng với ngày 23 cùng tháng của người Việt), từ cuối thập niên 1960 trở về trước, các gia đình phải sửa lễ cúng vua bếp ở chạn (là khoảng sàn gỗ, hoặc cây bương), từ bậc thang cuối cùng từ mặt đất lên đến trước cửa ra vào của ngôi nhà), để cầu mong cho người được khỏe mạnh, nhà cửa được yên ổn, nhất là không xảy ra hỏa hoạn.
Khi cúng thì bày một mâm lễ có gà, cá hoặc thịt lợn, xôi, 3 chiếc bát, 3 đôi đũa, 2 chén rượu, 2 chén nước lã. Người làm lễ đứng ở phía trên chạn, hướng về phía dưới (phía khoảng không gian và khoảng đất có cầu thang).
Theo lệ từ xưa, mỗi năm gia đình phải một lần thay các ông vua bếp, trước hết nhằm tạo ra sự chắc chắn, an toàn, vì vua bếp sau một năm đun nấu không tránh khỏi nhiều lần nước ở các nồi đun trào xuống đúng lúc vua bếp đang chịu sức nóng của lửa, gây nứt nẻ, thậm chí có thể làm vỡ, cần phải thay thế vào dịp cuối năm. Thay vua bếp mới còn có mục đích và niềm tin là mong sự mới mẻ, tốt lành cho bếp.
Để thay vua bếp, thường từ mồng 10 tháng Chạp trở đi, các gia đình phải lấy đất sét ở ruộng hoặc ao về nặn, phơi ra chỗ có nhiều nắng gió để nhanh khô, nhiều khi phải “giở” (quay các mặt của vua bếp) về phía có nắng, gió để khô đều. Đến ngày 23 tháng Chạp, người ta thay các ông vua bếp cũ bằng các ông vua bếp mới đã khô sau nửa tháng, rồi làm lễ cúng thần Bếp và cúng gia tiên ở trên nhà.
“Như vậy, ngày 23 tháng Chạp thực chất là ngày cúng thần Bếp - vị thần cai quản các công việc bếp núc trong nhà, không chỉ là chuyện cơm ăn hàng ngày, mà còn là hòa khí trong nhà, cả sự an toàn của ngôi nhà - cũng là của gia đình, liên quan tới lửa củi, đun nấu”, PGS.TS Bùi Xuân Đính khẳng định.
Theo PGS.TS Bùi Xuân Đính, đây cũng là ngày tôn vinh lửa , nguồn nhiêu liệu bất diệt của sự sống và tôn vinh phụ nữ - những người có công tìm ra cách tạo lửa và giữ lửa (vì vậy, phụ nữ từ xa xưa đã đảm nhiệm thiên chức lo việc bếp núc, nội trợ, cũng vì thế mà mang sứ mệnh “giữ lửa” cho gia đình, cả nghĩa đen và nghĩa bóng).
Xác định yếu tố gốc để không mất bản sắc
PGS Đính cho hay, tục cúng thần Bếp có từ rất xa xưa ở người Việt và nhiều tộc người thiểu số trên đất nước ta cũng như nhiều cộng đồng cư dân nông nghiệp, trước khi các yếu tố văn hóa Hán/Trung Quốc xâm nhập.
Trước Công nguyên khoảng trên dưới 100 năm, Đạo giáo ở Trung Quốc, với quan niệm vũ trụ về Ngọc hoàng và các bộ hạ (các táo) mới vào Việt Nam, từ đó hình thành quan niệm ngày 23 tháng Chạp, các Táo (trong đó có Táo trông coi việc bếp núc) cưỡi cá chép lên Thiên đình tâu - cáo với Ngọc hoàng về công việc dưới trần gian trong năm. Kèm theo quan niệm này là tục các gia đình mua bộ vàng mã “ông Công ông Táo” (một bà hai ông) để hóa và đôi cá chép vàng để thả ra ao (hồ, sông) sau lễ gia tiên, tượng trưng cho các Táo lên tâu Ngọc hoàng.
Yếu tố “Táo quân”, “Ngọc hoàng” gắn với Đạo giáo xuất hiện ở nước ta khá muộn (các nguồn sử liệu đều chép vào thế kỷ II Công nguyên, nhưng tài liệu của ông và một số nhà nghiên cứu là vào thế kỷ I trước Công nguyên).
Trước ý kiến cho rằng những yếu tố du nhập khi đã tiếp biến văn hóa thì có thể trở thành một phần văn hóa dân tộc, có thể chấp nhận, ông cho hay đó là quan điểm của mỗi người, song bản thân ông không đồng tình. Theo ông, những gì vốn là của người Việt nhưng bị yếu tố ngoại lai lấn át thì cần tìm lại gốc tích và giữ gìn bản chất ban đầu.
Ông phân biệt rõ giữa yếu tố gốc và yếu tố vay mượn. Những yếu tố mới du nhập, như một số từ ngữ có nguồn gốc từ văn hóa Pháp đã được Việt hóa, thì có thể chấp nhận như sự vay mượn bình thường. Tuy nhiên, với ngày 23 tháng Chạp, theo ông, nguồn gốc và bản chất ban đầu là tục cúng Thần Bếp – một tín ngưỡng tồn tại ở nhiều tộc người. Ở các dân tộc thiểu số, Thần Bếp được gọi là Ma Bếp; “ma” ở đây chính là cách gọi thần linh. Với đồng bào miền núi, vị thần giữ hồn lửa trong nhà có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi lửa gắn liền với sự sống.
Ông nhấn mạnh rằng mỗi người có quyền giữ quan điểm riêng, nhưng với tư cách nhà nghiên cứu, ông có trách nhiệm truy tìm cội nguồn văn hóa Việt và bảo vệ những giá trị gốc ấy.
Theo ông, văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Giữ được các yếu tố văn hóa gốc sẽ giúp tránh tâm lý tự ti, cho rằng dân tộc mình kém cỏi, phải vay mượn từ bên ngoài; đồng thời tránh tư tưởng sùng bái nước ngoài.
Ông không phủ nhận giao lưu, tiếp biến và cải biến văn hóa. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xác định rõ đâu là yếu tố gốc.
“Quan điểm này không chỉ của riêng tôi mà còn được các học giả tiền bối như Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi, Vũ Ngọc Khánh nêu ra; ông cho rằng mình có trách nhiệm kế tục và tiếp nối tư tưởng đó”, ông cho hay.
Mai Loan