Hành trình bền bỉ kiến tạo bệ phóng
Làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra cơ hội, nhưng cơ hội không tự động trở thành thành quả. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, dòng vốn công nghệ cao chỉ tìm đến những quốc gia hội đủ điều kiện về hạ tầng, nhân lực, thể chế và sự ổn định. Việc Việt Nam trở thành điểm đến của các tập đoàn công nghệ không phải là yếu tố ngẫu nhiên, mà là kết quả của một quá trình chuẩn bị bền bỉ và định hướng phát triển nhất quán trong nhiều năm.
Ngay từ Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta đã định vị khoa học kỹ thuật là động lực to lớn, mở đường hội nhập. Tư duy này liên tục được bồi đắp qua các kỳ đại hội, Đại hội lần thứ VIII và IX đã khẳng định giáo dục đào tạo và khoa học, công nghệ (KH&CN) là quốc sách hàng đầu, tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa. Bước ngoặt lớn đến từ Đại hội lần thứ XI và XII khi Đảng đặt nền móng với định hướng phải thực hiện ba đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực - những trụ cột sống còn để hấp thụ công nghệ chiến lược trong từng giai đoạn cụ thể. Kế thừa nền tảng đó, Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã định vị KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực bứt phá.
Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) chủ trì Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về Phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, diễn ra ngày 25-12-2025. Ảnh: qdnd.vn
Đặc biệt, ngày 21-12-2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây được xem như “khoán 10” trong lĩnh vực KH&CN, thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xác định KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu, trụ cột cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (13-1-2025), Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) khẳng định: “Với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta phải coi KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ chốt. Đây chính là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu, đồng thời hiện thực hóa khát vọng hùng cường và thịnh vượng của dân tộc ta”.
Như vậy, để tự tin hoạch định chiến lược trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đã có lộ trình kiến tạo bệ phóng trong gần 40 năm, hơn nữa, đó là quá trình kiến tạo liên tục và có định hướng rõ ràng. Địa chính trị chỉ tạo ra cơ hội, nhưng chỉ những quốc gia có chuẩn bị mới biến cơ hội thành lợi thế thực tế. Một yếu tố vô cùng quan trọng là sự kiên định trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị được ví như thỏi nam châm thu hút các nhà đầu tư chiến lược.
Ngoài lợi thế là môi trường hòa bình, ổn định, nước ta đã chuẩn bị kỹ về mọi mặt cho phát triển KH&CN nhằm thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này. Trong ảnh: Lao động làm việc tại nhà máy lắp ráp và thử nghiệm vi mạch điện tử của Công ty TNHH Intel Products Việt Nam có quy mô 1,5 tỷ USD. Ảnh: Intel Products Việt Nam
Thực tế chứng minh, trong cạnh tranh toàn cầu, chỉ những quốc gia đủ điều kiện mới thu hút được dòng vốn chất lượng cao. Không một tập đoàn công nghệ tỷ đô nào quyết định rót vốn chỉ vì yếu tố may mắn hay vị trí địa lý đơn thuần. Họ lựa chọn Việt Nam bởi chúng ta đã chủ động xây dựng một môi trường chính trị an toàn và những định hướng chiến lược rõ ràng, xuyên suốt, được khẳng định mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước.
Trong nhiều năm, Việt Nam đã từng bước xây dựng các điều kiện này, tạo nên sự sẵn sàng về tầng vật lý và hạ tầng số. Theo số liệu của Bộ KH&CN, năm 2026, độ phủ sóng di động băng rộng 4G của Việt Nam hiện đạt 99,8% dân số, vượt xa mức trung bình của nhiều quốc gia có thu nhập cao. Bên cạnh đó, mạng cáp quang đã vươn tới 100% xã, phường, đặc khu cùng với quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ đã tạo ra một nền tảng hạ tầng số tương đối hoàn chỉnh.
Đồng thời, việc chủ động tham gia sâu rộng vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) đã minh chứng rõ nét cho tư duy kiến tạo bệ phóng của Việt Nam. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với hơn 60 quốc gia và đối tác lớn trên toàn cầu. Mạng lưới liên kết kinh tế này chính là đòn bẩy vững chắc, tạo ra không gian thị trường rộng lớn và thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI công nghệ cao, khẳng định sự chủ động tuyệt đối của Việt Nam chứ không phải thụ động chờ đợi cơ hội ngẫu nhiên.
Thực tế cho thấy, nền tảng KH&CN không thể chỉ được đánh giá qua số lượng phát minh đột phá, mà còn nằm ở các yếu tố nền tảng như hạ tầng số, hệ thống giáo dục kỹ thuật và năng lực hấp thụ, cải tiến công nghệ. Việt Nam hiện sở hữu lực lượng kỹ sư đông đảo, khả năng triển khai công nghệ nhanh và đang từng bước tham gia sâu hơn vào các khâu có giá trị gia tăng cao cũng là nền tảng quan trọng, dù chưa hoàn thiện, nhưng đủ để tạo đà cho những bước tiến xa hơn trong thời gian tới.
PGS, TS Phạm Thị Túy, Phó viện trưởng Viện Kinh tế chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Các doanh nghiệp nước ngoài, nhất là các công ty công nghệ tỷ đô phải nhìn thấy tiềm năng, cơ hội thật sự thì mới rót vốn đầu tư. Việc hàng loạt doanh nghiệp công nghệ toàn cầu liên tục rót nhiều tỷ USD đầu tư vào Việt Nam thời gian qua cho thấy, ngoài lợi thế là môi trường hòa bình, ổn định, chúng ta đã đúng hướng trong việc chuẩn bị kỹ về mọi mặt cho phát triển KH&CN từ đường lối, chính sách, định hướng giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực…, biến KH&CN thành động lực cạnh tranh, phát triển đất nước”.
Yếu tố nền tảng như hạ tầng số là một trong những "thỏi nam châm" thu hút doanh nghiệp FDI đầu tư vào công nghệ cao ở nước ta. Ảnh: qdnd.vn
Sự chuyển dịch mang tính cấu trúc
Trên không gian mạng, không ít luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam không coi trọng khoa học, chỉ dừng ở gia công, lắp ráp. Cách nhìn phiến diện, lạc hậu này cố tình phớt lờ những chuyển biến rõ rệt trong tư duy phát triển, vận động liên tục. Mỗi quốc gia bước vào lĩnh vực công nghệ cao đều cần trải qua quá trình tích lũy, vì vậy, vấn đề không nằm ở việc “đang ở đâu”, mà ở chỗ “đang dịch chuyển theo hướng nào”. Ở Việt Nam, sự dịch chuyển đã và đang tạo ra bước thay đổi mang tính cấu trúc, với tầm nhìn dài hạn.
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã từng bước tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn như thiết kế, kiểm thử trong chuỗi bán dẫn; phát triển phần mềm, trí tuệ nhân tạo và các dịch vụ công nghệ; đồng thời, hình thành các doanh nghiệp công nghệ có năng lực cạnh tranh trong khu vực.
KH&CN và đổi mới sáng tạo được xác định là trục trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia, được cụ thể hóa rõ trong Văn kiện Đại hội XIV với các cơ chế đột phá về thể chế và chính sách đột phá về KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm tạo nền tảng cho lực lượng sản xuất mới. Đáng chú ý, các cơ chế, chính sách này được đặt ra theo hướng vượt trội, phù hợp với đặc thù lao động sáng tạo, đồng thời, tập trung tháo gỡ các rào cản trong hoạt động KH&CN. Đặc biệt, tư duy thể chế có bước chuyển rõ rệt khi chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thúc đẩy các cơ chế thử nghiệm, tạo không gian linh hoạt cho đổi mới sáng tạo phát triển.
Các chủ trương, chính sách về phát triển khoa học công nghệ giúp nhiều doanh nghiệp như Tập đoàn TH đầu tư ứng dụng những công nghệ tiên tiến trên thế giới cho sản xuất nông nghiệp. Ảnh: qdnd.vn
Sự cam kết với đổi mới sáng tạo còn được cụ thể hóa qua các chính sách hỗ trợ đầu tư mạo hiểm và phát triển hệ sinh thái thực chất. Đảng ta khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ của khu vực tư nhân, yêu cầu phải phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, cụm liên kết đổi mới sáng tạo, các khu công nghệ cao... quỹ đầu tư mạo hiểm, các vườn ươm công nghệ. Doanh nghiệp được đặt vào vị trí trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo. Sự chuyển mình vĩ mô này sẽ tạo ra cơ hội bứt phá thay vì thụ động chờ đợi sự “ăn may” từ dòng chảy vốn của thị trường toàn cầu trong các lĩnh vực rủi ro nhưng có giá trị cực cao.
Trước xu thế công nghệ lõi đang định hình trật tự phát triển toàn cầu, Đại hội XIV của Đảng đề ra nhiệm vụ ưu tiên tiếp thu, ứng dụng và tiến tới làm chủ các công nghệ chiến lược, trọng tâm là bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù để thu hút dòng FDI chất lượng cao vào các lĩnh vực này.
Chính sách đãi ngộ vượt trội về thu hút nguồn nhân lực
Xuyên tạc về KH&CN, nhiều thông tin phiến diện trên mạng xã hội thường xuyên thêu dệt câu chuyện Việt Nam bỏ rơi nhân tài. Họ lợi dụng một vài trường hợp cá biệt để vẽ nên bức tranh sai lệch, rằng môi trường trong nước triệt tiêu sự sáng tạo dẫn tới chảy máu chất xám, rằng Việt Nam “kỳ thị” hay “ngó lơ” trí thức kiều bào. Thực tế chứng minh điều hoàn toàn ngược lại, Việt Nam đang từng bước trở thành điểm hội tụ của nguồn lực tri thức trong và ngoài nước.
Thực tế chứng minh, trong các đột phá chiến lược, Đảng ta xác định rõ nhiệm vụ tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài. Định hướng này cũng đi kèm cơ chế bảo vệ cán bộ, khuyến khích người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Đặc biệt, Đảng và Nhà nước luôn dành sự trân trọng và những chính sách ưu đãi vượt trội đối với trí thức kiều bào, coi đây là nguồn lực vô giá của quốc gia, nhấn mạnh “khuyến khích các nhà giáo, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học trong nước”(1). Sự quan tâm thực chất đối với kiều bào, trong đó có đội ngũ trí thức đã mang lại kết quả cụ thể. Đến cuối năm 2025, cộng đồng hơn 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đã đóng góp 422 dự án đầu tư với tổng vốn 1,725 tỷ USD; lượng kiều hối chuyển qua ngân hàng đạt gần 250 tỷ USD.
Giảng viên và sinh viên Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội học tập, nghiên cứu với máy cộng hưởng từ hạt nhân. Ảnh: qdnd.vn
Hàng loạt trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia đã được hình thành, cùng với các cơ chế đãi ngộ đặc thù mang tính cạnh tranh cao về thu nhập, môi trường làm việc và cơ hội phát triển. Những chính sách này không chỉ thu hút, trọng dụng chuyên gia đầu ngành, doanh nhân công nghệ và trí thức kiều bào, mà còn từng bước tạo lập môi trường đủ sức giữ chân và phát huy nhân tài. Cùng với đó, việc kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo mở, gắn kết chặt chẽ giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đang định hình một không gian phát triển thực chất cho đổi mới sáng tạo.
Đối với nhân tài trong nước, Đảng ta chủ trương đổi mới và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển giáo dục và đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Việc đầu tư mạnh mẽ vào các trường đại học trọng điểm, liên kết đào tạo với các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã giúp sinh viên Việt Nam tiếp cận ngay với những công nghệ lõi tiên tiến nhất. Nguồn nhân lực trẻ, năng động, được đào tạo bài bản và có khả năng nắm bắt nhanh nhạy các xu hướng công nghệ mới đã tạo cảm hứng thu hút các “đại bàng” công nghệ toàn cầu trong thời gian qua.
Theo ông Trần Vũ Tuấn Phan, Phó giám đốc Trung tâm Tư vấn chiến lược, chính sách khoa học và công nghệ, Học viện Chiến lược KH&CN (Bộ KH&CN), Đảng, Nhà nước ta xác định con người là gốc, là trung tâm trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Các chính sách này tập trung cho phát triển con người từ đãi ngộ, cơ chế và môi trường làm việc nhằm tạo động lực giúp các nhà khoa học, nhà nghiên cứu có động lực sáng tạo. Lúc đó, các sản phẩm “Make in Vietnam”, thực sự do con người Việt Nam làm chủ sẽ phổ biến hơn rất nhiều. Chúng ta thừa nhận là KHCN của chúng ta chưa đứng đầu thế giới, nhưng ở một số nội dung, công việc chúng ta có thể tự tin là đã tiếp cận, nắm bắt được. Trong xu thế hiện nay, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng sẽ ngày càng tiến nhanh và có nhiều cơ hội tiếp cận, bắt nhịp với thế giới”.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự dịch chuyển nhân lực là hiện tượng bình thường, có người ra đi, nhưng cũng có người quay trở về hoặc tham gia đóng góp từ xa. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc dòng chảy nhân lực biến động, mà ở chỗ một quốc gia có tạo dựng được môi trường thuận lợi, linh hoạt và hội nhập, đủ sức thu hút, giữ chân cũng như phát huy hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời kết nối hiệu quả được nguồn lực tri thức toàn cầu hay không. Thực tiễn cho thấy, các chính sách của Việt Nam đã chứng minh hiệu quả trong việc giải quyết vấn đề này.
Những năm qua, hàng loạt “đại bàng” công nghệ toàn cầu liên tục rót nhiều tỷ USD đầu tư vào Việt Nam, biến Việt Nam thành nơi sản xuất và R&D lớn nhất toàn cầu. Trong lĩnh vực bán dẫn, Intel duy trì nhà máy kiểm định, đóng gói vi mạch quy mô 1,5 tỷ USD tại TP Hồ Chí Minh; tại Bắc Ninh, Amkor Technology khánh thành nhà máy bán dẫn 1,6 tỷ USD, Hana Micron rót gần 1 tỷ USD. Các đối tác lớn của Apple như Foxconn, Pegatron cũng không ngừng mở rộng chuỗi cung ứng; Nvidia, Synopsys, Marvell cam kết đầu tư mạnh mẽ vào hệ sinh thái AI, thiết kế vi mạch.
null
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, 2026, t1, tr. 102
Nhóm phóng viên