Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng của ông Cao Văn Ba, xã Giao Ninh cho hiệu quả kinh tế cao.
Xuất thân trong gia đình nghèo khó nên ông Cao Văn Ba, xã Giao Ninh, luôn khát khao thoát nghèo, làm giàu chính đáng trên mảnh đất quê hương.
Ông gắn bó với nghề nuôi tôm thẻ chân trắng từ năm 1998, nhưng hiệu quả không cao do nuôi theo phương thức truyền thống, hiệu quả thấp. Vì vậy, ông Ba đã chủ động học hỏi kỹ thuật mới, mạnh dạn vay vốn đầu tư xây dựng hệ thống ao nuôi công nghệ cao theo tiêu chuẩn VietGAP.
Đến nay, ông đang có hơn 5ha nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao. Các ao nuôi nổi, có đáy lót, mái che điều tiết nhiệt độ, giúp môi trường ổn định, đặc biệt nuôi được tôm trái vụ, điều mà ao nuôi truyền thống không thể làm được vào mùa Đông ở miền Bắc. Mỗi vụ, 1.000m2 ao cho sản lượng từ 5 đến 6 tấn tôm thương phẩm. Với mô hình công nghệ cao, hằng năm gia đình ông thu về hàng tỷ đồng.
Sau bao năm gắn bó với nghề kỹ sư điện, anh Nguyễn Đại Dương ở xã Giao Hòa trở về quê, quyết tâm làm giàu ngay trên mảnh đất của quê hương.
Sau khi tham quan các mô hình nuôi trồng thủy sản của những người đi trước, anh Dương quyết định chuyển sang nuôi con vạng giống. Tận dụng diện tích đầm sẵn có, ban đầu anh đầu tư nuôi tôm tự nhiên trên diện tích hơn 10ha.
Tuy nhiên, do hiệu quả kinh tế thấp, tôm thường xuyên hao hụt nên sau vài năm kiên trì bám nghề, anh quyết định dừng mô hình để tìm hướng đi mới phù hợp hơn. Sau thời gian nghiên cứu, anh Dương mạnh dạn cải tạo lại đầm nuôi và mua vạng giống về ương.
Bên cạnh việc phát triển, cung ứng vạng giống, gia đình anh còn đầu tư cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị hiện đại để nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao. Qua đó, nâng cao thu nhập cho gia đình.
Đến nay, với quy mô trang trại nuôi thủy sản 25ha, mỗi năm gia đình anh bán ra hàng chục tấn con vạng giống và tôm thẻ chân trắng. Sau khi trừ tất cả chi phí, gia đình anh thu lãi từ 1,5-2,5 tỷ đồng/năm, tạo công ăn việc làm ổn định cho khoảng 10 lao động địa phương, với mức lương cơ bản từ 6-8 triệu đồng/tháng và khoảng 30 lao động thời vụ, với tiền công 250 đến 300 nghìn đồng/ngày.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 35 nghìn ha diện tích nuôi trồng. Những năm gần đây, việc chú trọng xây dựng các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung với hạ tầng đồng bộ giúp các hộ nuôi có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao sản lượng và chất lượng, đưa sản phẩm thủy, hải sản của tỉnh vươn ra thị trường trong và ngoài nước.
Năm 2025, tốc độ tăng trưởng sản xuất thủy sản của tỉnh đạt 5,07%; tổng sản lượng thủy sản đạt 310.252 tấn, tăng 3,7% so với năm 2024 (trong đó nuôi trồng chiếm trên 76%); giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 9.522,7 tỷ đồng, tăng 5,07% so với năm 2024. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 95.183 tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 74.644 tấn (tăng 5,1%).
Các cơ sở sản xuất giống tích cực tu bổ, cải tạo, khử khuẩn ao đầm, đến nay, tổng số lượng giống mặn lợ sản xuất ước đạt 9.423 triệu con. Nhờ điều kiện thuận lợi, khối bãi bồi rộng lớn và nguồn phù sa dồi dào, người dân các địa phương đã quản lý, khai thác hiệu quả diện tích nuôi trồng, đồng thời hạn chế tối đa việc sử dụng hóa chất để bảo vệ nguồn nước biển tự nhiên.
Phương thức nuôi chuyển từ nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến sang nuôi thâm canh và siêu thâm canh, áp dụng theo quy trình VietGAP, nuôi công nghệ cao.
Đối tượng con nuôi phát triển khá đa dạng và đang từng bước hình thành sản phẩm thủy đặc sản của địa phương.
Các vùng nuôi tập trung áp dụng khoa học công nghệ cao tập trung ở khu vực nuôi nước mặn lợ như các xã: Hải Xuân, Hải Thịnh, Giao Ninh, Giao Minh, Rạng Đông, Kim Đông, Bình Minh…
Bên cạnh các đối tượng nuôi truyền thống, những năm qua tỉnh đặc biệt coi trọng phát triển tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể 2 mảnh vỏ và các loại cá đặc sản.
Các vùng nuôi ngao thương phẩm của tỉnh được kiểm soát chặt chẽ đạt tiêu chuẩn châu Âu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và nguyên liệu cho nhà máy chế biến, xuất khẩu các sản phẩm từ ngao vào thị trường EU.
Các tiến bộ khoa học kỹ thuật đang được các hộ nuôi ứng dụng như công nghệ nuôi tôm 2, 3 giai đoạn, công nghệ biofloc, nuôi ít thay nước, nuôi tuần hoàn nước, ứng dụng công nghệ vi sinh thay cho các sản phẩm kháng sinh, hóa chất phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Việc nuôi trồng thủy sản theo hướng tập trung ứng dụng khoa học công nghệ không chỉ đẩy mạnh sản lượng cũng như chất lượng sản phẩm thủy, hải sản mà còn hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất thủy, hải sản, xây dựng chuỗi liên kết giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng gắn với quản lý và truy xuất nguồn gốc kết hợp xây dựng thương hiệu sản phẩm.
Nhằm phát triển ngành thủy sản hiện đại, bền vững, gắn với bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cho người dân vùng ven biển, vùng nuôi trồng và khai thác thủy sản... ngày 27/12/2025, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 120/KH-UBND về phát triển thủy sản trên địa bàn tỉnh đến năm 2030.
Theo đó, từng bước chủ động sản xuất và đáp ứng nhu cầu về giống cá biển, giống thủy sản nước ngọt; 100% nhu cầu giống nhuyễn thể 2 mảnh vỏ; giảm thiểu tổn thất sau thu hoạch đến năm 2030 dưới 10%; xây dựng chuỗi liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ đảm bảo đầu ra ổn định cho khoảng 25% sản phẩm thủy sản nuôi trồng; giá trị sản xuất thủy sản giai đoạn 2026-2030 (giá so sánh 2010) ước đạt 51.160 tỷ đồng…
Việc triển khai hiệu quả kế hoạch của UBND tỉnh sẽ tạo chuyển biến căn bản cho ngành Thủy sản, bảo đảm sự phát triển theo đúng định hướng Chiến lược thủy sản quốc gia, góp phần phát triển kinh tế và gìn giữ hệ sinh thái và phát triển nông thôn bền vững.
Bài, ảnh: Trần Hồng Minh