Phú Thọ có 60 đô thị được xếp loại là đô thị loại II và loại III
Theo danh sách công bố, các đô thị loại II gồm: Việt Trì, Vĩnh Yên, Hòa Bình, Phúc Yên; và các đô thị loại III gồm: Phú Thọ, Lương Sơn, Lâm Thao, Hùng Sơn, Phong Châu, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Hưng Hóa, Đoan Hùng, Cẩm Khê, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hòa, Tân Phú, Tam Sơn, Lập Thạch, Hoa Sơn, Tam Đảo, Đại Đình, Hợp Châu, Hợp Hòa, Kim Long, Vĩnh Tường, Tứ Trưng, Thổ Tang, Yên Lạc, Tam Hồng, Hương Canh, Gia Khánh, Thanh Lãng, Đạo Đức, Bá Hiến, Nguyệt Đức, Trung Nguyên, Tề Lỗ, Đồng Văn, Quất Lưu, Thượng Trưng, Đại Đồng, Tân Tiến, Sơn Đông, Xuân Lôi, Văn Quán, Bàn Giản, Hợp Lý, Hợp Thịnh, Bo, Chi Nê, Ba, Hàng Đồi, Mai Châu, Mãn Đức, Đà Bắc, Vụ Bản, Hàng Trạm, Cao Phong, Phong Phú.
Ngoài ra, danh mục 15 phường được xác định đạt trình độ phát triển đô thị đối với đơn vị hành chính trong đô thị là: Việt Trì, Nông Trang, Thanh Miếu, Vân Phú, Vĩnh Phúc, Vĩnh Yên, Hòa Bình, Kỳ Sơn, Tân Hòa, Thống Nhất, Phong Châu, Phú Thọ, Âu Cơ, Phúc Yên, Xuân Hòa.
Dựa trên các quy hoạch đô thị mới nhất tính đến đầu năm 2026, Phú Thọ nổi lên là địa phương có số lượng đô thị loại II và loại III tập trung lớn. Thể hiện tốc độ đô thị hóa cao và quy hoạch phân bổ đô thị rộng khắp trong định hướng phát triển giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Và tỉnh Phú Thọ là một trong số ít địa phương trên cả nước có từ 4 đô thị loại II trở lên.
Hồi đầu năm, UBND tỉnh Phú Thọ đã tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh quy hoạch thống nhất trên địa bàn toàn tỉnh sau sáp nhập cho thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông nhấn mạnh, cần gắn thực hiện quy hoạch với phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa - lịch sử, giữ gìn bản sắc vùng đất Tổ; chú trọng phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Các địa phương cần chủ động lồng ghép các mục tiêu về giảm nghèo bền vững, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quá trình triển khai quy hoạch...
Hiện tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh phát triển đô thị xanh, phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu trở thành cực tăng trưởng vùng Thủ đô với tỷ lệ đô thị hóa đạt 45-50% vào năm 2030. Tỉnh tập trung xây dựng 22 đô thị, chú trọng tích hợp mô hình tuần hoàn, phát triển không gian xanh, hạ tầng thông minh, đặc biệt tại TP. Việt Trì, gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa, lịch sử và bảo vệ môi trường.
Việt Trì là 1 trong 4 đô thị loại II của tỉnh Phú Thọ.
Tiêu chí về đô thị xanh, phát triển bền vững được đưa vào khung đánh giá chính thức của hệ thống phân loại đô thị
Theo Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bắt đầu từ ngày 01/01/2026, hệ thống phân loại đô thị của Việt Nam sẽ bước sang giai đoạn mới khi chỉ còn 4 loại đô thị, gồm đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III. Nghị quyết 111 đồng thời cũng thay đổi cách xếp hạng khi chuyển sang chấm điểm và đưa các tiêu chí về đô thị xanh, thông minh và phát triển bền vững vào khung đánh giá chính thức. Đây không còn là các nội dung khuyến khích mà trở thành tiêu chí được tính điểm trong quá trình phân loại.
Bộ tiêu chí mới bao phủ nhiều lĩnh vực gắn với chất lượng sống đô thị, như: giao thông công cộng, không gian xanh công cộng, công trình xanh, xử lý chất thải rắn, phân loại rác tại nguồn, ứng dụng công nghệ trong quản lý đô thị, thích ứng với biến đổi khí hậu. Một số tiêu chí còn gắn với việc giảm phát thải, sử dụng năng lượng tái tạo, phát triển đô thị thông minh.
Đáng chú ý, để làm rõ hơn, mới đây nhất Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/01/2026 quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 111 về phân loại đô thị.
Theo đó, Nghị định số 35 quy định phát triển đô thị phải đảm bảo các nguyên tắc: Phù hợp với quy hoạch tỉnh, thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn theo từng cấp độ quy hoạch, phù hợp với chương trình, kế hoạch phát triển đô thị theo từng thời kỳ và theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng vùng, miền.
Việc phát triển đô thị bao gồm cải tạo, chỉnh trang đô thị, mở rộng đô thị và phát triển đô thị mới phải bảo đảm quốc phòng, an ninh và đáp ứng các yêu cầu, tiêu chí tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, phát triển bền vững theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; việc quy hoạch phát triển các đô thị phải gắn với bảo vệ tài nguyên nước, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu, không vượt ngưỡng khai thác dưới đất theo quy định pháp luật về tài nguyên nước.
Thực hiện khai thác và sử dụng hiệu quả đất đai; ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, hợp tác quốc tế vào hoạt động quản lý, đầu tư phát triển đô thị; kết nối đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và hạ tầng số, bảo đảm phát triển đô thị hiện đại và văn minh; việc đánh giá và phân loại đô thị được thực hiện theo quy định của Nghị quyết số 111 và nghị định này.
Phát triển đô thị phải đáp ứng yêu cầu giữ gìn, bảo tồn các giá trị đặc trưng đô thị về lịch sử, truyền thống, di sản, công trình kiến trúc có giá trị; duy trì, phát triển không gian xanh, mặt nước, cảnh quan thiên nhiên, bảo vệ môi trường, hành lang thoát lũ, bảo vệ đê điều và tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan; tạo môi trường sống tốt cho cư dân tại đô thị, bảo đảm hài hòa lợi ích cộng đồng, Nhà nước và nhà đầu tư....
Đặc biệt, với phát triển đô thị tăng trưởng xanh phải đảm bảo 3 nhóm tiêu chí là: Nhóm tiêu chí hạ tầng xanh tại đô thị bao gồm: Tỷ lệ vận tải hành khách công cộng; tỷ lệ xe buýt sử dụng năng lượng xanh; tỷ lệ phương tiện giao thông cá nhân hạn chế phát thải; đường dành riêng cho xe đạp; tỷ lệ đường đô thị sử dụng các thiết bị và công nghệ tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng tái tạo để chiếu sáng; tỷ lệ dân số được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung; diện tích đất cây xanh công cộng bình quân đầu người.
Nhóm các tiêu chí về môi trường tại đô thị bao gồm: Chỉ số chất lượng không khí; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ nước thải sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; tỷ lệ ngày trong năm có nồng độ bụi siêu mịn và bụi mịn trong môi trường không khí vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường cho phép.
Nhóm các tiêu chí về năng lượng và giảm phát thải tại đô thị bao gồm: Tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng đô thị; tỷ lệ nhà dân sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu; số lượng công trình xanh.
Bên cạnh đó, nghị định này cũng quy định rõ các yêu cầu chung, yêu cầu cụ thể về phát triển đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong phát triển đô thị và cơ chế, chính sách ưu đãi về tài chính, quỹ đất... để thực hiện phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Chẳng hạn, đối với ưu đãi về tài chính để thực hiện phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu: Dự án đầu tư xây dựng tại đô thị, tùy theo mục đích, tính chất của dự án nếu có thực hiện tiêu chí tăng trưởng xanh theo quy định tại nghị định này thì được Nhà nước bảo lãnh tín dụng để vay vốn đầu tư thực hiện dự án theo quy định; được vay vốn ưu đãi từ quỹ bảo vệ môi trường, các quỹ khác liên quan đến tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu theo quy chế của quỹ và quy định của pháp luật;
Chủ đầu tư dự án được hưởng các chính sách hoàn thuế, khấu trừ thuế hoặc được miễn, giảm thuế khi đầu tư vào các hạng mục hạ tầng xanh, công trình xanh, tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, rác thải theo quy định của pháp luật.
Đối với ưu đãi về quỹ đất và đào tạo nâng cao năng lực về quản lý phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ưu tiên bố trí quỹ đất đã giải phóng mặt bằng theo quy hoạch để đầu tư các dự án xây dựng hạ tầng xanh, công trình công cộng sử dụng năng lượng sạch theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm bố trí ngân sách của địa phương để hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đô thị trong lĩnh vực phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn.
Như vậy, căn cứ vào Nghị định 35 cũng như Nghị quyết 111 có thể thấy rằng, việc phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới phát triển bền vững đã trở thành một trong những tiêu chí, tiêu chuẩn bắt buộc để chấm điểm, đánh giá và phân loại đô thị.
Ninh An