Đối tượng áp dụng và phạm vi công tác
Quy chế này quy định về phân công trách nhiệm, trình tự, thủ tục, việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm, người phạm tội và kiểm sát tính hợp pháp các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xét xử vụ án hình sự, bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.
Đối tượng áp dụng là Viện kiểm sát các cấp, gồm: VKSND tối cao; VKSND tỉnh, thành phố (VKSND cấp tỉnh); VKSND khu vực; Viện kiểm sát quân sự các cấp.
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan nêu tại khoản 1 Điều này; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Về phạm vi công tác, Quy chế nêu rõ: Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự bắt đầu từ khi Viện kiểm sát chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ vụ án đến Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Quang cảnh một phiên tòa xét xử vụ án hình sự. (Ảnh minh họa)
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
Theo Quy chế quy định, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 266 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 18 của Luật Tổ chức VKSND và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khi thực hành quyền công tố theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn nêu tại điểm a khoản 1 Điều này và tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 377 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi thực hành quyền công tố đối với việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điều 404, 405, 406, 407, 408 và 411 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 3 Điều 4, Điều 19 của Luật Tổ chức VKSND và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thì Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau: Kiểm sát trường hợp, căn cứ, điều kiện xét xử vắng mặt bị cáo; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc xét xử vắng mặt bị cáo.
Thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên tham gia tố tụng
Về thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự có người chưa thành niên tham gia tố tụng, Quy chế nêu rõ, khi thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự có bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ thành phần, điều kiện của thành viên Hội đồng xét xử; thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, hình phạt, biện pháp tư pháp đối với người chưa thành niên bảo đảm thực hiện đúng quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Bộ luật Tố tụng hình sự, quy định khác của pháp luật có liên quan và Quy chế này.
Khi bị can, bị cáo thuộc trường hợp và có đủ căn cứ, điều kiện được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 55 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Viện kiểm sát kiểm sát việc Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị can, bị cáo, nếu phát hiện vi phạm thì thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị; trường hợp Tòa án chưa ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với bị can, bị cáo thì Viện kiểm sát đề nghị Tòa án xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và kiểm sát các hoạt động tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.
Quy chế này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của ngành Kiểm sát nhân dân trái với Quy chế này được bãi bỏ. Trường hợp có quy định mới hoặc các văn bản quy định, hướng dẫn được dẫn chiếu tại Quy chế này được sửa đổi, bổ sung bằng văn bản khác có liên quan thì áp dụng theo quy định mới của pháp luật, quy định, hướng dẫn của Ngành.
P.V