Tình trạng thiếu dữ liệu và cơ chế theo dõi hiệu quả cũng khiến giới chức khó đánh giá chính xác quy mô thị trường cũng như mức độ bền vững của hoạt động khai thác từ tự nhiên.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, việc khai thác chim hoang dã để phục vụ nhu cầu nuôi cảnh, mua bán và tiêu dùng quốc tế đang tạo thêm sức ép lên quần thể ngoài tự nhiên, đồng thời làm tăng nguy cơ suy giảm số lượng ở nhiều loài.
Không chỉ ảnh hưởng tới công tác bảo tồn, hoạt động này còn có thể làm xáo trộn các hệ sinh thái bản địa và làm tăng nguy cơ phát tán mầm bệnh giữa động vật với con người.
Một số phân tích gần đây cho thấy, hàng trăm nghìn cá thể chim đã được xuất khẩu từ châu Phi sang Hong Kong (Trung Quốc) và Singapore trong giai đoạn 2006-2020. Đáng chú ý, phần lớn các loài nằm trong luồng thương mại này không thuộc diện được hệ thống kiểm soát thương mại động vật hoang dã quốc tế giám sát chặt chẽ, cho thấy còn nhiều khoảng trống trong quản lý.
Dữ liệu nghiên cứu cũng cho thấy, 45,1% tổng số loài chim trên toàn cầu và 36,7% số loài chim đang bị đe dọa đã xuất hiện trong các bộ dữ liệu về buôn bán.
Theo giới chuyên gia, thực trạng này làm dấy lên lo ngại rằng, hoạt động thương mại hợp pháp có thể trở thành kênh che giấu cho các đường dây buôn bán bất hợp pháp, đồng thời cản trở nỗ lực bảo vệ các loài quý hiếm.
Trong bối cảnh đó, các nhà nghiên cứu kêu gọi các chính phủ rà soát lại chính sách quản lý buôn bán chim hoang dã, tăng cường giám sát và siết chặt cơ chế theo dõi chuỗi cung ứng.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, chỉ khi lấp được các khoảng trống trong quản lý, các nước mới có thể giảm thiểu rủi ro đối với hệ sinh thái, kinh tế và y tế công cộng.
(theo TTXVN)