Khẳng định khởi nghiệp sáng tạo là chiến lược quốc gia
Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam thời gian qua đã có những bước phát triển tích cực, đóng góp rõ nét vào tăng trưởng kinh tế - xã hội. Việt Nam đã hình thành một số doanh nghiệp “kỳ lân”, thu hút mạnh dòng vốn đầu tư mạo hiểm, đồng thời phát triển đa dạng các thiết chế hỗ trợ như quỹ đầu tư, vườn ươm, tổ chức thúc đẩy kinh doanh và các trung tâm đổi mới sáng tạo ở cả trung ương và địa phương.
Đáng chú ý, năm 2025, chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu của Việt Nam xếp thứ 55, với TP. Hồ Chí Minh lần đầu lọt vào top 5 Đông Nam Á; Hà Nội và Đà Nẵng đều cải thiện thứ hạng đáng kể. Những kết quả này phản ánh tiềm năng lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có một chiến lược tổng thể, dài hạn và mang tính đột phá.
Ảnh minh họa
Nghị quyết 86/NQ-CP xác định rõ: khởi nghiệp sáng tạo không chỉ là hoạt động kinh tế mà là chiến lược quốc gia dài hạn, gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ và phát triển bền vững đất nước.
Theo nội dung Nghị quyết, “quốc gia khởi nghiệp sáng tạo là quốc gia mà mọi công dân đều có khát vọng và có thể khởi nghiệp với sự sáng tạo trong mọi lĩnh vực dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”.
Quan điểm này thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy phát triển: từ hỗ trợ doanh nghiệp đơn lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, trong đó đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi của nền kinh tế.
Chiến lược nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước trong hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy các điều kiện cần thiết để khởi nghiệp sáng tạo phát triển. Đồng thời, khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, chấp nhận rủi ro và khoan dung với thất bại trong toàn xã hội.
Bên cạnh đó, Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu về khởi nghiệp sáng tạo trong khu vực, với sự phát triển mạnh mẽ của hệ sinh thái và sự ra đời của hàng vạn doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Đồng thời, Việt Nam hướng tới hình thành một số doanh nghiệp khởi nghiệp có giá trị từ 1 tỷ USD trở lên, nâng cao vị trí trong các bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, với thị trường vốn đầu tư mạo hiểm phát triển mạnh và tỷ lệ người dân tham gia khởi nghiệp ở mức cao.
Nghị quyết cũng cụ thể hóa các chỉ tiêu như: số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, quy mô thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, mức độ tham gia của người dân vào hoạt động khởi nghiệp… (thể hiện tại phần mục tiêu cụ thể của Chiến lược).
Đề ra nhiều cơ chế vượt trội
Một trong những điểm nhấn quan trọng của Chiến lược là xây dựng khung thể chế đột phá nhằm tháo gỡ các “điểm nghẽn” lâu nay.
Chính phủ định hướng hoàn thiện thủ tục hành chính trên môi trường số, đồng thời nghiên cứu, thí điểm các cơ chế đặc thù như mô hình “doanh nghiệp một người”, cơ chế phá sản rút gọn và các khu thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho công nghệ mới.
Nghị quyết 86/NQ-CP cũng nêu rõ việc “tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho khởi nghiệp sáng tạo; thí điểm cơ chế xử lý phá sản, xử lý nợ xấu theo thủ tục rút gọn, đặc thù dành riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để tạo điều kiện tái khởi nghiệp”.
Đây là bước tiến quan trọng nhằm tạo môi trường kinh doanh linh hoạt, giảm thiểu rủi ro thể chế và khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo.
Một nội dung đáng chú ý khác trong Nghị quyết là việc thiết kế các cơ chế tài chính mới, nhằm giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo – vốn được xem là “nút thắt” lớn nhất hiện nay.
Nghị quyết nêu rõ: “Thí điểm cơ chế bảo lãnh tín dụng và cho vay vốn đặc thù đối với dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo dựa trên công nghệ, tài sản vô hình, tài sản trí tuệ, hợp đồng sẵn có, hợp đồng đặt hàng và các loại tài sản khác.”
Bên cạnh đó, Chiến lược cũng đặt ra định hướng phát triển mạnh mẽ thị trường vốn đầu tư mạo hiểm, hình thành các quỹ đầu tư từ cấp quốc gia đến địa phương, cũng như từ doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục.
Việc đa dạng hóa nguồn vốn sẽ góp phần tạo dòng chảy tài chính ổn định, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp vượt qua giai đoạn đầu nhiều rủi ro.
Song song với thể chế và vốn, Chiến lược đặc biệt nhấn mạnh yếu tố con người và hệ sinh thái. Theo đó, giáo dục khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ được đưa vào toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, từ phổ thông đến đại học. Đồng thời, xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian khởi nghiệp cộng đồng và nền tảng số hỗ trợ doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc.
Nghị quyết cũng đề cập việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và địa phương, các cụm liên kết ngành và mạng lưới hỗ trợ khởi nghiệp, tạo điều kiện kết nối giữa doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học.
Đáng chú ý, các chương trình hỗ trợ sẽ bao gồm cả đào tạo, tư vấn, hỗ trợ pháp lý, tài chính, cũng như hỗ trợ chi phí nghiên cứu, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.
Chiến lược cũng xác định hội nhập quốc tế là một trụ cột quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ sinh thái khởi nghiệp. Theo đó, Việt Nam sẽ đẩy mạnh hợp tác quốc tế, thu hút chuyên gia, nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nghị quyết nêu rõ việc “thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, thiết lập kênh kết nối cho khởi nghiệp sáng tạo trong nước với các thị trường trọng điểm, mạng lưới khởi nghiệp toàn cầu”. Đây là giải pháp quan trọng nhằm giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận công nghệ, thị trường và nguồn lực quốc tế, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hồng Quang