Sự khởi đầu một lịch sử

Sự khởi đầu một lịch sử
2 giờ trướcBài gốc
Tàu Amiral Latouche Tréville, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước (6/1911). Ảnh tư liệu
“Từ Làng Sen có một Người trai chí lớn...”
Ngày 5/6/1911 là một ngày như thế. Ngày ấy, tại Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành, sau này là Hồ Chí Minh, đã bước lên con tàu Amiral Latouche Tréville, rời Tổ quốc. Bước chân náo nức của tuổi trẻ trở thành bước khởi đầu một hành trình lớn lao của vận mệnh dân tộc. Đó là cuộc lên đường của một Người trai chí lớn, là sự khởi đầu của mộtlịch sử. Chữ một ở đây không phải là con số đếm mà là một định danh mang tính khẳng định. Một lịch sử duy nhất, không thể lặp lại. Một lịch sử bắt đầu từ một con người, nhưng mở ra cho cả một dân tộc. Một lịch sử mà từ khoảnh khắc ấy, những gì diễn ra sau này, từ Cách mạng tháng Tám 1945, đến độc lập dân tộc, từ những cuộc kháng chiến trường kỳ đến công cuộc đổi mới và phát triển, đều có thể soi rọi, tìm về như trở về một điểm xuất phát. Bến Nhà Rồng năm ấy, vì thế, trở thành một địa danh lịch sử, một khởi điểm của ý chí kiên cường.
Đầu thế kỷ XX, đất nước Việt Nam như chìm khuất trong sương mù lịch sử. Sau tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp năm 1858, dân tộc rơi vào vòng nô lệ. Những phong trào yêu nước nổi lên như những đợt sóng, từ Cần Vương, Đông Du, đến Duy Tân, Yên Thế… Mỗi phong trào là một tiếng gọi, một lời đáp, một khát vọng. Nhưng tất cả, cuối cùng, đều rơi vào thất bại. Không phải vì dân ta thiếu lòng nồng nàn yêu nước, mà vì thiếu một con đường. Sự bế tắc ấy không phải ai cũng nhìn ra. Nhưng Nguyễn Tất Thành, với trực giác chính trị sắc bén và một trái tim luôn thao thức trước vận mệnh đất nước, đã nhận ra điều đó từ rất sớm. Người trân trọng các bậc tiền bối, nhưng không đi theo con đường đã vạch sẵn. Người chọn một con đường khác, đi ra thế giới, để tìm lời giải cho chính câu hỏi của dân tộc mình.
Đó là một quyết định vừa giản dị, vừa vĩ đại. Giản dị ở hành động, một chuyến đi, như biết bao chuyến đi. Vĩ đại ở ý nghĩa, đây là chuyến đi đặc biệt, “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Tôi chợt nhớ câu thơ của Ko Un - nhà thơ Hàn Quốc: “Người ta chỉ có thể trở về khi đích thực ra đi”. Đích thực ra đi, không phải là rời xa một bến cảng mà là rời khỏi cái tôi nhỏ bé, những giới hạn của nhận thức, những thói quen an toàn. Đó là chấp nhận bước vào cái chưa biết, chấp nhận thử thách, cô đơn và cả những rủi ro khôn lường.
Nguyễn Tất Thành đã ra đi như thế. Người ra đi với một câu hỏi lớn và mang theo câu hỏi ấy suốt hành trình dài: Làm thế nào để dân tộc được tự do, đất nước được độc lập? 30 năm bôn ba là 30 năm tìm tòi, tự học, tự thay đổi. Người “đi hỏi khắp bóng cờ châu Mỹ, châu Phi”, chứng kiến tận mắt những bất công, ngang trái. Từ những trải nghiệm ấy, nhận thức của Người dần mở rộng, sâu sắc và chín muồi. Và chính vì đã “đích thực ra đi”, nên khi trở về Tổ quốc vào mùa xuân năm 1941, Người đã thấy đất nước hiện lên rõ hình hài. Hành trình ấy được Chế Lan Viên cô đọng trong một hình ảnh giàu sức gợi: “Người đi tìm hình của nước”. Hình của nước không phải là một khái niệm địa lý. Đó là một đất nước không chỉ có trên bản đồ, mà sống động trong cuộc đời của nhân dân, có chủ quyền và có quyền được sống, được tự do, hạnh phúc. Từ “Nước Việt nghìn năm Đinh, Lý, Trần, Lê” đến “Nước Việt nhân dân trong mát suối” là một bước chuyển kỳ vĩ . Bước chuyển ấy không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của một hành trình đi tìm, một quá trình chiêm nghiệm và lựa chọn.
Ở đây, tư tưởng thi ca và triết lý gặp nhau. Ko Un nói về điều kiện của sự trở về. Chế Lan Viên nói về mục đích của sự ra đi. Và chính cuộc đời Hồ Chí Minh là nơi hai dòng tư tưởng ấy hội tụ thành hiện thực sống động. Người ra đi để tìm hình của nước, đến khi trở về mang theo hình hài ấy không phải như một giấc mơ, mà như một con đường. Con đường đó được xác lập khi Người tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng điều quan trọng không phải là sự tiếp nhận, mà là sự lựa chọn. Người đã thử nghiệm, so sánh, suy ngẫm và đã được ánh sáng Luận cương Lênin soi rọi. Đó là một bước ngoặt về tư tưởng. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một nền tảng lý luận rõ ràng. Độc lập dân tộc không còn là khát vọng mơ hồ, mà trở thành một mục tiêu có phương hướng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cách mạng Việt Nam, kết tinh những giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa tư tưởng nhân loại. Chiều sâu nhân văn tư tưởng của Người thể hiện ở chỗ, không dừng lại ở độc lập, mà đi xa hơn, độc lập phải gắn với hạnh phúc của nhân dân: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Đây là một tuyên ngôn về giá trị. Nó đặt con người vào trung tâm của mọi mục tiêu phát triển, làm cho lý tưởng cách mạng trở nên gần gũi, thiết thực và mang hơi thở của đời sống.
Từ điểm khởi đầu năm 1911, một dòng chảy lịch sử đã hình thành và không ngừng vận động. Dòng chảy ấy đi qua những thác ghềnh dữ dội của chiến tranh, qua những khúc quanh do “động đất chính trị” thế giới vào những năm 90 của thế kỷ trước. Để hôm nay những chân trời mới của phát triển đang rộng mở. Nếu nhìn lại hơn một thế kỷ qua, ta có thể thấy rõ sợi chỉ đỏ xuyên suốt, từ tìm đường đến đi đường, từ giành độc lập đến xây dựng đất nước, từ giải phóng dân tộc đến nâng cao chất lượng sống của nhân dân. Đó là một tiến trình bền bỉ, liên tục, kế thừa, gạn lọc và phát triển.
Như dòng sông mang sức nước ngàn năm
Đại hội lần thứ XIV của Đảng khởi đầu kỷ nguyên mới của dân tộc, với việc nhấn mạnh mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, với hai mục tiêu 100 năm, với việc lấy con người làm trung tâm, lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo, chính là sự tiếp nối trực tiếp của tư tưởng ấy trong điều kiện mới. Cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không ít. Tình hình thế giới có những diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế, nhưng thế giới đang đối mặt với xung đột vũ trang kéo dài, cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn và các thách thức an ninh phi truyền thống. Trong bối cảnh ấy Đảng ta khẳng định, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của thời đại.
Đó là trí tuệ, bản lĩnh của một Đảng đã đi qua thử thách, luôn đổi mới, sáng tạo. Trong dòng liên tưởng ấy, tôi nhớ đến lời dặn của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, cả đời thanh sạch, chính trực và khí khái, khi người con trai chuẩn bị xuống tàu ra biển lớn: “Thượng y trị quốc, trung y trị dân” (thầy thuốc giỏi chữa bệnh cho nước, thầy thuốc bậc trung thì chữa cho dân). Đầu thế kỷ XX, căn bệnh trầm kha ấy là mất độc lập, là đói nghèo, lạc hậu. Nguyễn Tất Thành đã ra đi để tìm phương thuốc. Và Người “thầy thuốc” khi trở về, đã không chỉ chữa lành, mà còn mong muốn tạo nên, duy trì một cơ thể khỏe mạnh - xây dựng một quốc gia độc lập, sánh vai cùng bè bạn năm châu. Ngày nay, những “căn bệnh” của nước đã khác xưa nhiều. Nhưng còn rất nhiều khó khăn, thách thức, còn lắm điểm nghẽn, sức ỳ, vật cản. Phải đổi mới sáng tạo. Phải phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển bền vững, vươn lên giàu mạnh, văn minh. Đó là trách nhiệm trước nhân dân, là ý chí tự hào dân tộc, vươn lên mạnh mẽ trong thời toàn cầu hóa.
Và như thế “sự khởi đầu một lịch sử” không chỉ là một cách gọi, mà là một cách nhìn. Lịch sử bắt đầu từ những tiên đoán và quyết định dũng cảm. 115 năm, khoảng thời gian đủ dài để thử thách mọi giá trị, đủ để minh chứng giá trị của một lựa chọn. Từ Bến Nhà Rồng, một con đường đã mở ra. Con đường ấy đã đưa dân tộc đi qua bóng tối, để đến với ánh sáng. Hôm nay, cơ đồ, vị thế, tiềm lực, uy tín quốc tế của đất nước đã lớn mạnh hơn bao giờ hết, nhìn về tương lai chúng ta càng thấm thía ý nghĩa của ngày 5/6/1911.
Đó không chỉ là một kỷ niệm thiêng liêng. Đó là một lời nhắc nhớ. Rằng lịch sử nhiều khi bắt đầu từ một bước chân. Con đường trở về của Bác là con đường trở về của một người con xa cố hương lâu ngày, một người yêu nước, chứ không phải là một ông Vua, hay một vị Thánh. Bởi thế Hồ Chí Minh mãi là “Người là của Dân ta, Bác Hồ yêu của mỗi nhà”.
Dòng chảy lịch sử hôm nay vẫn vang lên khúc quân hành khi trầm hùng, khi hối hả, để nhanh chân ra thế giới và trở về, đi vững và đi xa hơn nữa. Bởi lịch sử, khi được khởi đầu bằng lý tưởng cao cả, sẽ không dừng lại, sẽ chảy mãi qua năm tháng, qua các thế hệ, qua những đổi thay, qua những thử thách, như dòng sông mang sức nước ngàn năm, mang theo khát vọng của cả một dân tộc. Nơi đầu nguồn của dòng sông ấy, vẫn còn đó hình bóng của người thanh niên yêu nước dũng cảm năm nào, lặng lẽ bước lên con tàu, mang trong tim mình một câu hỏi lớn. Một câu hỏi đã trở thành câu trả lời của lịch sử, thành chân lý của thời đại./.
Hải Đường
Nguồn PetroTimes : https://petrotimes.vn/su-khoi-dau-mot-lich-su-740573.html