Hình ảnh vệ tinh cho thấy khói bốc lên từ cảng Ust-Luga của Nga trên Biển Baltic sau cuộc tấn công của Ukraine vào ngày 27/3/2026. (Ảnh: Reuters)
Nguyên tắc “ăn miếng trả miếng” đã lan sang lĩnh vực năng lượng. “Nếu Nga sẵn sàng ngừng tấn công vào ngành năng lượng của chúng tôi, chúng tôi cũng sẽ làm điều tương tự”, Tổng thống Volodymyr Zelensky tuyên bố trong bài phát biểu ngày thứ Hai 6/4, sau khi chính thức đề xuất với Moscow một thỏa thuận ngừng bắn trong lĩnh vực năng lượng.
Điện Kremlin đến nay vẫn chưa phản hồi Kiev, bất chấp việc Ukraine gia tăng các cuộc tấn công vào các cơ sở dầu mỏ của Nga từ tháng 3. Ngay sáng hôm sau, một loạt 22 máy bay không người lái đã dội xuống cảng dầu Oust-Louga, cách Kiev gần một nghìn km về phía bắc.
Những cuộc tấn công nhằm vào các mục tiêu trên lãnh thổ Nga cho thấy năng lực và quyết tâm ngày càng tăng của Ukraine trong việc mở rộng danh sách mục tiêu, nhằm làm suy yếu nỗ lực xung đột của đối phương. Từ các nhà máy luyện kim, cơ sở khai thác phân bón cho đến nhà sản xuất vi mạch. Kiev đã lập một danh sách rộng các lĩnh vực gắn trực tiếp với công nghiệp quốc phòng của Nga. Tuy vậy, năng lượng vẫn là huyết mạch trong xung đột.
Bộ Quốc phòng Ukraine coi các cơ sở dầu mỏ là những tài sản quân sự thực thụ của Nga và cho biết đã tấn công hơn chục mục tiêu trong tháng qua. Các nhà máy lọc dầu là mục tiêu chính, nhưng nhiều cảng dầu cũng đã bị oanh kích, thậm chí nhiều lần, bằng các đợt tấn công bằng máy bay không người lái mang theo chất nổ.
Chiến lược này thực ra không phải mới. Từ năm 2024, Ukraine đã tìm cách làm chậm lại cỗ máy dầu mỏ của Nga bằng các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào các cơ sở trong lãnh thổ Nga, đồng thời đánh vào các tàu thuộc “hạm đội bí mật” của Điện Kremlin. Đồng thời, Kiev cũng đáp trả các đợt không kích dày đặc của Nga vào chính hạ tầng năng lượng của mình.
Nhiều nhà máy lọc dầu, kể cả những nơi nằm rất xa biên giới, đã bị tấn công. Trong các chiến dịch trước đây, việc nhắm vào các cơ sở này cho thấy Nga có khả năng nhanh chóng chuyển hướng khai thác sang các cơ sở ít sử dụng hơn, đồng thời sửa chữa các đơn vị bị hư hại trong thời gian ngắn. “Người Nga nắm vững các công nghệ này, nên họ có thể sửa chữa, nhưng điều đó buộc họ phải tăng cường công tác bảo trì, và những người đảm trách việc này thì không có mặt ở tiền tuyến”, Thierry Bros, chuyên gia năng lượng, giảng viên tại Sciences Po Paris, nhận định.
Không chỉ dừng lại ở các nhà máy lọc dầu, việc gia tăng các cuộc tấn công trong tháng qua còn cho thấy khả năng của quân đội Ukraine trong việc đồng thời đánh trúng các điểm then chốt của hệ thống xuất khẩu dầu của Nga. Các cảng dầu chính ở biển Baltic cũng như biển Đen đã bị tấn công trong khoảng thời gian rất gần nhau.
“Nga xuất khẩu phần lớn dầu của họ, nhưng lại không có nhiều điểm để làm điều đó. Ở phía tây, họ có thể xuất khẩu qua ba cảng chính: Primorsk và Oust-Louga ở biển Baltic, và cảng Novorossiisk ở biển Đen. Trong ba tuần qua, có thể thấy các cuộc tấn công đã trở nên có hệ thống vào cả ba cảng này, nhắm vào các khu vực lưu trữ dầu cũng như các bến xuất khẩu”, Ulrich Bounat, nhà phân tích địa chính trị chuyên về Trung và Đông Âu, giải thích.
Hệ quả kinh tế
Chiến lược này trước hết nhằm “làm rối loạn xã hội Nga và cho người dân thấy rằng chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine không diễn ra đơn giản như dự tính”, ông Thierry Bros phân tích. Việc nhắm vào năng lực xuất khẩu của Nga cũng nhằm làm suy giảm nguồn thu nhập của nước này. Dù không làm tê liệt hoàn toàn ngành dầu mỏ Nga, các cuộc tấn công dồn dập của Ukraine rõ ràng nhằm ngăn Moscow tận dụng tối đa đà tăng giá dầu kể từ khi xung đột tại Iran nổ ra.
Cần nhắc lại rằng ngày 12/3, Mỹ đã đơn phương nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ Nga, giúp Moscow phần nào “dễ thở” hơn. Trước đó, nền kinh tế Nga chịu ảnh hưởng từ các lệnh trừng phạt nhắm vào hai trong số những nhà khai thác dầu lớn nhất của nước này, cùng với việc phương Tây siết chặt hơn đối với các tàu thuộc “hạm đội bí mật”. Ukraine từ đó tìm cách hạn chế nguồn thu của Điện Kremlin.
Theo thông tin do Financial Times dẫn lại, các cuộc tấn công liên tiếp vào hai cảng Primorsk và Oust-Louga vào cuối tháng 3 riêng đã gây thiệt hại gần 1 tỷ USD. Hai cảng này đảm nhiệm khoảng 40% lượng dầu xuất khẩu của Nga. Các vụ nổ không chỉ thiêu rụi những kho dự trữ dầu lớn mà còn phá hủy cơ sở hạ tầng. Những đợt tấn công mới của Ukraine vào ngày 5/4 cũng được cho là đã đánh trúng một đường ống dẫn dầu gần cảng Primorsk.
Canh bạc rủi ro?
Việc làm gián đoạn khai thác của Nga cũng đồng thời ảnh hưởng rộng hơn đến thị trường năng lượng toàn cầu, vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi việc phong tỏa eo biển Hormuz. Bằng cách này, Ukraine cũng nhắc phần còn lại của thế giới rằng “họ là một biến số trong hệ thống toàn cầu này và nếu muốn tìm giải pháp thì phải đối thoại với họ”, ông Thierry Bros nhận định. “Ông Donald Trump không cung cấp vũ khí cho họ, châu Âu thì cứ cân nhắc mãi chưa biết làm gì. Người Ukraine thì sử dụng những gì họ có”, ông bổ sung.
Đây cũng là cách để Ukraine thu hút lại sự chú ý và thiện chí từ các đồng minh, như Mỹ - quốc gia đang phần nào rời xa Ukraine kể từ khi ông Donald Trump trở lại nắm quyền. Tuy nhiên, chiến lược này không được tất cả các đối tác của Kiev ủng hộ. Một số đồng minh gần đây đã kêu gọi Tổng thống Volodymyr Zelensky giảm bớt các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Nga.
Hơn nữa, ngân sách Nga không chỉ dựa vào xuất khẩu dầu mà còn có nguồn thu từ các loại thuế đánh vào hoạt động khai thác dầu. Vì vậy, chỉ tấn công vào khâu cuối của chuỗi khai thác chưa đủ để gây ảnh hưởng lâu dài đến tài chính của Điện Kremlin. Chưa kể, việc giảm nguồn cung dầu lại có thể khiến giá dầu trên thị trường tăng lên.
Như vậy, Ukraine đang sử dụng một chiến lược “dao hai lưỡi” - có thể hiệu quả, nhưng chỉ khi được duy trì trong thời gian dài mới có thể mang lại kết quả rõ rệt. Bất chấp những “tín hiệu” từ một số đồng minh, Tổng thống Ukraine vẫn tỏ ra quyết tâm theo đuổi hướng đi này, do phía Nga chưa có nhượng bộ nào.
Nh.Thạch
AFP