Bàu Hà Kiều - một góc nên thơ của thị trấn Hà Lam. Ảnh: ANH QUÂN
Bất chợt dưới lưng tôi êm hẳn. Chiếc xe bò do cha tôi kéo phía trước và mẹ đẩy phía sau, nhẹ tênh, chạy băng băng. Tôi ngóc đầu dậy, thấy hai bên đường lác đác những ngôi nhà đã sáng đèn. Mẹ tôi nói, tới thị trấn rồi, con ưng thì xuống đi bộ cho vui. Vậy là cha tôi dừng xe, mẹ bồng tôi xuống. Tôi vặn vẹo vài cái cho đỡ mỏi rồi nhảy tưng tưng, cả nhà lại lên đường…
Đó là lần đầu tiên, khoảng chín mười tuổi, tôi theo cha mẹ đi bán mía ở thị trấn Hà Lam.
Nhà tôi cách thị trấn chừng hơn năm cây số, nhưng với một đứa trẻ nông thôn, nhà nghèo, suốt ngày lăn lộn với ruộng đồng, rừng rú…, cảm giác thị trấn là một nơi chốn thật xa xôi, lạ lẫm và cao sang.
Như ở xứ trồng mía quê tôi, người ta bẻ ngang gốc mía, lột lá rồi cứ thế mà đưa vô miệng cắn xước và nhai rau ráu, nước tuôn trào cả ra ngoài, phấn mía bám đầy trên má trên mép; chứ đâu phải chặt từng khúc hơn gang tay người lớn, rồi lấy dao róc vỏ ra, khi ăn lại cắt thành từng đoạn nửa đốt ngón tay mới dám đưa vô miệng nhai trong sự hứng thú dè dặt, như kiểu ăn của người thị trấn…
Sau này lớn lên một chút, lớp 5 rồi lớp 9, vào đội tuyển luyện thi học sinh giỏi, tôi mới lại được lên thị trấn ở chừng một tháng; và thấy nơi đây có nhiều điều lạ lẫm hơn. Trước tiên, là mấy đứa học trò thị trấn ăn mặc thật tinh tươm, lành lặn, thơm tho; không như đám nhà quê chúng tôi quần áo rách vá, dính đầy nhựa cây và bùn đất, đi chân không lỗ chỗ vết gai đâm. Rồi cách nói chuyện cũng lạ, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Và tôi không hiểu sao, người ta chỉ bán mấy thứ áo quần, sách vở, giấy bút hay sửa xe đạp lặt vặt, không gieo lúa, trồng khoai chi cả mà lại có cái ăn hằng ngày(?)
Thị trấn Hà Lam trong mắt tôi lúc đó, chỉ có một con đường nhựa lớn từ cống Tư Thiết xuống đến ngã tư giao với quốc lộ, vài nhánh đường đất quanh bàu Hà Kiều và ngôi trường tôi học tạm, mấy ngôi nhà ken dày lối chợ… Loanh quanh với nhà sách Nhân Dân là cửa hàng sách quốc doanh và nhà sách Tân Văn của tư nhân. Nhà thờ Giáo xứ Hà Lam dưới trường trung học và chùa Giác Nguyên bên bờ bàu Hà Kiều, là những nơi thâm nghiêm và tôn kính; mà sau này khi lên cấp ba, tôi mới dám theo chân đám bạn mon men đến gần.
Tôi cũng chỉ biết hai tiệm ăn nổi tiếng là quán cơm Bà Tô - tôi ăn cơm tháng ngày 2 “chở” khi trọ học bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9; và quán mỳ gà Bà Tự, khi đến thăm con gái bà là cô Nga - nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, chứ lúc đó chưa bao giờ có đủ tiền để dám bước vô kêu một tô mỳ thơm lừng mùi dầu phụng phi nén xào thịt gà làm nhưn…
Thị trấn Hà Lam những năm đầu 1980 chỉ vậy thôi mà xa lạ quá trong mắt một đứa trẻ nhà quê như tôi. Nhắc đến Nguyễn Nhật Ánh, dường như nhà văn này yêu Hà Lam lắm, dù ông sinh ra ở xã Bình Quế, cách thị trấn hơn 15 cây số và ông chỉ đến nơi này một thời gian ngắn để trọ học cấp hai. Bởi, bên cạnh truyện dài Ngày xưa có một chuyện tình lấy bối cảnh thị trấn, ông dành nguyên truyện dài Cây chuối non đi giày xanh viết về mảnh đất và con người nơi đây, như một lời tạ ơn cho những ngày ở trọ đất này.
Như tôi, như nhiều bạn bè khác. Dù không sinh ra từ thị trấn, nhưng có một thời gian đi học hay qua lại nơi này, cũng đã yêu, đã xem Hà Lam như “quê mình” khi rời đất Thăng Bình đến lập nghiệp nơi xa.
Để rồi trong đó, mới nhận ra rằng, Hà Lam cũng như nhiều thị trấn ven đường thiên lý Bắc - Nam, dường như được lập nên từ các quán, các trạm, các chợ… dọc đường, từ thuở cha ông đi mở mang bờ cõi trên đất Quảng, rồi xuôi về phương Nam.
Tôi lục tìm mãi, vẫn chưa tường Hà Lam được lập nên từ lúc nào, nhưng từ lâu đã có tên trên văn bản cổ, như Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn soạn năm 1776, viết rằng “Đường sá từ trấn Thuận Hóa vào Quảng Nam, nhật trình đi bộ từ quán Trôn Voi đến quán Trà nửa ngày (...). Quán Thanh Khê đi đến quán Cẩm Sa nửa ngày; quán Cẩm Sa đi tối đến dinh Quảng Nam, dinh Quảng Nam đi đến quán Hà Lam nửa ngày, lại đi, chiều tối đến quán Bà Bầu”.
Rồi sau này lớn lên nữa, nghĩ về đám bạn học thị trấn ngày xưa, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, không chỉ có vẻ ngoài ăn mặc đàng hoàng tươm tất, mà hình như tụi nó còn được hưởng nền tảng giáo dục của một mảnh đất văn vật lâu đời. Trong thế kỷ 19, đất Hà Lam nổi tiếng với dòng họ Nguyễn mà cụ Phó bảng Hà Đình Nguyễn Thuật - làm quan Thượng thư 3 bộ - là một tấm gương tài năng, đức độ, như vua Thành Thái khen ngợi “xứng đáng làm mẫu mực cho vạn thế”. Những công trình dòng họ để lại, không chỉ là “Cửu khúc Hà trì”, là cây cầu nhỏ mang tên Hà Kiều bắc qua bàu sen thơ mộng… mà cả cốt cách phong nhã của người có học.
Ngẫm kỹ càng hơn, bản sắc văn hóa của con người - là nhà buôn, trí thức hay thợ thủ công…, lại chính là thứ làm nên cốt cách của một thị trấn; chứ không phải là cái chợ tấp nập bán buôn, vài ba con đường tráng nhựa, mấy công sở với ngôi nhà cao tầng xúm xít bên nhau. Thế nên, dù chỉ cách nông thôn “chừng một cây số về bốn phía” như lối nói của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, nhưng cái chất thị trấn bao giờ cũng dễ dàng phân biệt được.
Trong công cuộc sắp xếp đơn vị hành chính, khi sáp nhập với các vùng lân cận để hình thành xã mới, cấp “thị trấn” - cái neo chênh vênh giữa thành thị và nông thôn - đã mất đi. Nhưng tôi tin, nếu con người nơi ấy giữ được hồn cốt văn hóa của mình, bản chất thị trấn mai sau vẫn còn đó và lớn dần lên, hòa cùng nét đẹp thôn quê để làm nên vẻ đẹp muôn đời của xứ Việt mình…
ANH QUÂN