Thơ trẻ xứ Thanh: Diện mạo mới

Thơ trẻ xứ Thanh: Diện mạo mới
một giờ trướcBài gốc
Các hội viên ban Thơ, Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa trong chuyến đi thực tế sáng tác tại Trận địa Đông Ngàn và Tượng đài Trung đội dân quân gái Hoa Lộc. Ảnh: Phong Lan
Hiện nay, lực lượng những cây viết trẻ xứ Thanh như Phạm Văn Dũng, Phạm Tiến Triều, Lê Đáng, Mai Xuân Tứ, Phạm Tú Anh, Quách Lan Anh, Hạnh Lê, Phong Lan, Lê Huyền, Lê Hương, Mai Hương, Phạm Công Tuyền và một số cây bút khác - là đại diện cho các vùng miền, không gian địa lý xứ Thanh. Họ là thế hệ tiếp nối, chung vai gánh vác trách nhiệm cùng các nhà thơ gạo cội xứ Thanh khi tuổi đã cao, sức viết cạn dần.
Về hình thức nghệ thuật, thơ trẻ xứ Thanh đã phần nào thoát ra khỏi hệ thống thi pháp cũ, có những khởi phát mĩ cảm mới đem lại hứng thú cho bạn đọc. Thơ của họ không nặng về thể loại như đường luật, lục bát hay thơ bảy chữ. Cũng không câu thúc, quy phạm nhiều về vần điệu, lệ luật của lối thơ cũ. Nhìn chung, thơ của các cây bút trẻ xứ Thanh những năm gần đây, ngôn từ có độ rung cảm, giàu thi ảnh, được tái tạo ngày càng tươi mới; tu từ có trường độ cao, của duy cảm mới, đáp ứng trình độ thẩm mỹ ngày càng cao của bạn đọc.
Về nội dung tư tưởng, nhìn bao quát, các nhà thơ trẻ xứ Thanh đã có những đóng góp không nhỏ tái hiện vẻ đẹp con người, quê hương xứ Thanh. Dù tình cảm riêng tư hay cảm xúc có tính phổ quát, đọc thơ trẻ, ta vẫn thấy rất rõ diện mạo đất và người quê hương, với những căn tính làm nên bản sắc riêng của xứ Thanh, mảnh đất địa linh nhân kiệt. Đặc trưng của thơ nói chung và thơ trẻ nói riêng, coi trọng cá tính sáng tạo, tạo tác những phận người, những góc khuất của đời, hướng tới giá trị nhân bản.
Giọng điệu mới mẻ, cách lập tứ tạo ra một lối thể hiện riêng, tứ thơ được quan niệm là cột sống của bài thơ, ý tình được triển khai theo mạch quán xuyến của tứ thơ, như trong bài thơ “Bảy dòng họ” của Phạm Văn Dũng: “Bảy dòng họ trong làng - bảy khu mộ lưu danh/ Phận sống mỏng manh suối vàng bền chặt/ Chỉ bay giữa lưng chừng như măn mắt/ Rồi tự đốt mình như lũ thiêu thân/ Sống hay chết cũng là bụi trần gian/ Chỉ bảy dòng họ là đang nhô cao phần mộ”. Bên trong con chữ là ngẫm ngợi về giá trị cuộc sống. Cảm thức làng, dòng máu ấy luôn chảy rần rật trong mỗi người con. Hồn làng, là đất đai, mồ mả, thành hoàng, các dòng họ và lịch sử làng. Đắm đuối, tự hào về làng, là mạch vỉa không bao giờ vơi cạn, thi liệu ngọt lành trong tập thơ “Pho sử sống của làng” của Phạm Văn Dũng. Ở bài thơ “Bóng thời gian”, cách khai triển theo thời gian, không gian nói về một vòng đời dằng dặc nhưng cũng thật ngắn ngủi. Từ đó gửi đến một ý nghĩa, phải sống sao cho ra sống. Cảm thức về thời gian trôi chảy, mỗi giây phút qua đi là một phần đời tuổi trẻ hao khuyết. Nhà thơ trẻ Vũ Tuyết Nhung đem đến một giọng điệu mới, khiến cho ý tưởng thơ vừa kín đáo vừa khơi gợi cái đẹp nhân văn: “Chỉ người hái sen biết/ Cúi xuống bùn/ Rửa qua/ Trắng muốt/ Ngọt giòn dâng hiến” (Ngó Sen). Tấm lòng trinh bạch ẩn trong ngó sen bùn đất.
Sinh ra ở núi, làm việc cũng ở vùng cao, mây ngàn, dáng núi, nhà sàn, tiếng suối róc rách đêm ngày như ám vào thơ Phạm Tiến Triều. Giọng điệu thơ mang âm hưởng núi rừng, lời nói mộc mạc, thô ráp của đồng bào: “Ở trên núi/ tôi sinh ra từ ngút ngàn hương cỏ/ từ tiếng hát suối mường ngày mẹ trở dạ/ cánh rừng ve vuốt giấc mơ tôi ngày trẻ/ với rộn ràng tiếng chim” (Ở trên núi). Chữ nghĩa tạo dựng, giữ gìn hồn cốt, văn hóa Mường. Là người con của xứ Mường, anh ý thức sâu sắc điều đó. Bên cạnh các nhà thơ Trương Thị Màu, Phạm Thị Kim Khánh..., Phạm Tiến Triều đã tạo được chỗ đứng cho mình trong sáng tạo con chữ. Cách nói của người miền núi mộc mạc mà khơi gợi chiều sâu liên tưởng về văn hóa cội nguồn, tình nghĩa phu thê bền chặt. Bài thơ “Bùa yêu” đẹp tình đôi lứa, đôi tình nhân đi trong bầu khí quyển mát lành của văn hóa xứ sở mường, tình yêu nở hoa, lời yêu quấn quýt mặn nồng. Phải là người thấm đẫm những tập tục mường, nặng sâu với quê hương, anh mới viết những câu thơ đậm chất nhân văn.
Thơ trẻ xứ Thanh có sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. Ta như thấy vẫn là nền nếp của cảnh tình, thi liệu quen thuộc. Song hướng tiếp cận cái mới là điều đáng ghi nhận ở thơ của họ, từ biểu đạt, cấu tứ đến cách sử dụng ngôn từ. Truyền thống ở sự biểu đạt lối nghĩ lối cảm quen thuộc của Nhân dân, hiện đại ở ngôn từ, hướng đến tượng trưng, siêu thực. Nhà thơ trẻ Mai Hương viết: “Xin quay ngược thời gian về xưa cũ/ Trước sân nhà nắng chải mướt hàng cau/ Chú chích bông lí lắc đùa lộc nõn/ Vườn quê ơi thơ ấu vẫn đượm màu/ Mái ngói rạn qua bao đông dầu dãi/ Gốc cột trầm ngâm năm tháng thở dài/ Bên chái nhà dày cơn mưa lá mục/ Dây trầu khô còn níu mãi trầu vôi” (Trở về). Cảm xúc cố hương găm sâu vào từng mảng màu, đường nét, ánh sáng. Cảnh quê êm đềm, lưu chứa tâm hồn đứa con xa. Tu từ về thơ như ẩn dụ, liên tưởng được tác giả vận dụng một cách nhuần nhuyễn, mềm mại tạo nên khoái cảm mới cho bạn đọc. Thân phận đáng thương khi bé gái bị cha mẹ tham tiền bán con cho nhà người. Cuộc sống u tối nơi vùng cao cũng là thái độ phản kháng của nhà thơ: “Mẹ ưng gả con khi nương ngô còn xanh/ Bắp non chưa ngậm sữa/ Cây ngô non trên hốc đá/ Ngược gió lung lay/ Cha ưng gả con trong cơn say/ Bạc trắng xòe ngang bậu cửa/ Vết than đếm tuổi con/ cha vạch thêm vết nữa” (Bùi Xuân Tứ).
Cách tân hay nói cách khác là làm mới thơ, các nhà thơ trẻ xứ Thanh rất ý thức điều này. Với điểm nhìn và tư duy thơ của người trẻ, họ thổi hồn vào những con chữ, làm cho nó tươi mới, có sinh khí, phập phồng hơi thở sống. Đêm, tiếng chim rừng ru giấc ngủ nồng, sáng dậy, tiếng suối rì rào bản hòa ca dìu dặt của thiên nhiên. Bản làng là hồn vía của Phạm Tiến Triều, là nơi đi về bàn chân, nơi nương náu tinh thần. Thơ anh âm vang tiếng cồng, tiếng chiêng, dìu dặt lời xường, ấp iu cái vía “Vía à! Vía ơi!”. Lời thơ quấn quýt nương lúa, nương ngô, rẫy sắn, tiếng gọi lắc cắc mõ trâu, tiếng ời ời kêu gà vịt về chuồng. Thử nghĩ, nếu một ngày nào, thơ anh bị “bứng” ra khỏi hồn mường, lúc đó chỉ còn là cái xác khô héo?.
Thi liệu đầu tiên của thơ là ngôn từ và cách sắp xếp, chọn lựa nó một cách đắc địa. Sinh thời, nhà thơ Lê Đạt nói “Con chữ bầu nên nhà thơ”. Ngôn từ chân xác, gọi đúng tình, đúng cảnh, đem lại khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc. Ở bài thơ “Buông”, tác giả trẻ Lê Đáng viết: “Rồi một ngày/ Bình minh choàng tấm áo màu tro/ Hoàng hôn cồn lên màu mắt/ Ngôi sao nhỏ nháy nhịp cuối cùng rồi rơi tự do về đất/ Là ngày em xa anh”. Không nói đến khổ đau, buồn thương khi phải từ bỏ một cuộc tình mà người đọc như thấy nỗi cắt cứa hụt hẫng. Nỗi niềm thuộc về phái yếu, họ đã yêu và sống vì tình nhiều hơn, rời xa là mất mát, tang thương. Ở độ mặn mà của tuổi trẻ, hẳn rằng, tác giả đã được trải nghiệm điều này. Người thơ không chỉ sống và yêu cho mình mà trên hết là trải qua nhiều nỗi đời.
Thơ trẻ hướng tới thể thơ tự do, với thể thơ này, các nhà thơ tha hồ buông xõa, tung hứng cảm xúc. Trong bài “Hội làng”, Bùi Xuân Tứ viết: “Hội làng anh cuối màu hoa xoan nở/ Khi câu xường nặng trĩu giọt mưa xuân/ Cặp váy thêu em cất từ đông trước/ Bung sắc hương trên những vạt tai mèo”. Thi ảnh thơ giàu chất họa, chất nhạc. Không khí hội làng tưng bừng, rộn rã, trai gái xúng xính quần áo đẹp vui chơi, giao tình, hẹn ước. Điểm nhấn của lễ hội, cái phần thần hồn nơi tụ hội vẫn là trai tài gái đẹp, men rượu cần, câu xường và men say tình ái.
Thơ trẻ đã có những trăn trở để làm mới từ thi liệu, ngôn từ, diễn đạt, tu từ đến hình thức thể loại, song nhìn lại vẫn còn nhược điểm cần khắc phục. Về môi trường sinh thái, các tiêu cực xã hội thơ ít đề nói đến có lẽ do các nhà thơ trẻ ngại va chạm, giữ mình. Về tư duy nghệ thuật, nhiều bài chưa hay, kể lể sự việc đơn giản, sức ám gợi, tính hình tượng chưa khắc sâu. Cá tính sáng tạo cũng như phong cách nghệ thuật chưa được định hình rõ nét ở các tác giả trẻ. Mong rằng, thời gian trải nghiệm và sự nỗ lực bền bỉ sẽ giúp các nhà thơ trẻ sớm khắc phục, bổ trám những nhược điểm trên hành trình khẳng định mình.
Lê Xuân Toàn (CTV)
Nguồn Thanh Hóa : https://vhds.baothanhhoa.vn/tho-tre-xu-thanh-dien-mao-moi-41512.htm