Mưa bão cực đoan dồn dập giai đoạn 2024 - 2025 góp phần đáng kể vào sự sụt giảm thu nhập của lao động ngoài trời (LĐNT) là một trong những kết quả nghiên cứu đáng chú ý nhất rút ra từ báo cáo sơ bộ* do Viện Nghiên cứu Đời sống Xã hội công bố gần đây. Cấu trúc nghiên cứu gồm hai vòng khảo sát, được thiết kế có chủ đích để tạo điều kiện so sánh tình trạng của người lao động trước và sau chuỗi thiên tai 2024-2025.
Thu nhập lao động ngoài trời giảm 15,7% sau chuỗi thiên tai 2024–2025
Nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 800 lao động ngoài trời (400 người/vòng) mưu sinh trong các ngành xây dựng, xe ôm truyền thống/công nghệ, bán hàng rong và bốc vác tại TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ. Trong đó, chỉ có 79 người ở vòng 2 xác nhận từng tham gia vòng 1, cho thấy đây là hai mẫu tương đối độc lập. Thu nhập trung bình hàng tháng của lao động ngoài trời ở vòng 2 thấp hơn đáng kể so với vòng 1, giảm từ 7.474.825 đồng xuống 6.298.400 đồng, tương đương mức chênh lệch 1.176.425 đồng hay 15,7%.
Nữ công nhân vệ sinh môi trường trùm kín người bằng khăn, bịt khẩu trang, đội mũ rộng vành và mang bao tay để chống chọi với tiết trời oi bức vì nắng và khói bụi. Ảnh: VOV
Về giới, mức độ sụt giảm thu nhập ở lao động nữ chênh lệch đáng kể so với nam. Cụ thể, thu nhập của nữ giới giảm 19,4%, từ 6.202.973 đồng xuống còn 4.999.000 đồng, trong khi nam giới chỉ giảm 12,1%, từ 7.963.322 đồng xuống 6.998.077 đồng, cho thấy nữ giới là nhóm dễ bị tổn thương hơn trước các cú sốc từ thiên tai và thời tiết cực đoan.
Về ngành nghề, nhóm lao động bốc vác, vốn có thu nhập cao thứ hai trong Vòng 1 với 8.163.500 đồng, lại là nhóm chịu mức suy giảm lớn nhất với 20,4%, tương đương mất gần 1,7 triệu đồng mỗi tháng. Sự sự giảm này có thể được giải thích bởi đặc thù của công việc bốc vác phụ thuộc trực trực tiếp vào lưu lượng hàng hóa được vận chuyển và trao đổi tại các chợ đầu mối, bến cảng, kho hàng, và nhà ga. Khi chuỗi cung ứng hàng hóa bị gián đoạn nghiêm trọng do thiên tai làm hư hại cơ sở hạ tầng giao thông, ngập lụt các tuyến đường và kho bãi, hoặc do các nhà sản xuất và thương nhân tạm ngừng hoạt động, nhu cầu về dịch vụ bốc vác giảm mạnh tương ứng.
Nhóm bán hàng rong cũng chịu tác động nặng nề với mức giảm 17,1%, mất hơn 950.000 đồng mỗi tháng. Như đã phân tích ở phần trên, nghề này đặc biệt dễ bị tổn thương vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc khách hàng sẵn sàng ra đường và tiêu dùng các mặt hàng không thiết yếu. Thiên tai và thời tiết xấu kéo dài không chỉ làm giảm lượng khách tiềm năng mà còn ảnh hưởng đến tâm lý tiêu dùng, khiến người dân thắt chặt chi tiêu và ưu tiên những nhu cầu thiết yếu nhất.
Nhóm công nhân xây dựng có mức giảm 14,0%, tương đương mất khoảng 1,27 triệu đồng mỗi tháng. Mặc dù đây không phải là mức giảm cao nhất về tỷ lệ phần trăm, nhưng do thu nhập cơ sở của nhóm này cao nhất, họ vẫn mất đi một số tiền tuyệt đối khá lớn. Ngành xây dựng thường bị ảnh hưởng bởi thời tiết xấu do không thể thi công ngoài trời khi mưa lớn hoặc nắng nóng quá mức, và nhiều dự án có thể bị trì hoãn hoặc tạm dừng sau thiên tai khi chủ đầu tư cần tập trung nguồn lực vào khắc phục thiệt hại thay vì đầu tư mới.
Khu vực gầm cầu có bóng mát và gió được nhiều tài xế lựa chọn để trốn nắng. Ảnh: Báo Lao Động
Nhóm xe ôm và tài xế ứng dụng gọi xe có mức suy giảm thấp nhất với 11,6%, tương đương khoảng 822.000 đồng mỗi tháng. Đây là nhóm có khả năng chống chịu tốt nhất trong bối cảnh khó khăn chung. Có thể có nhiều lý do giải thích cho điều này, gồm (i) nhu cầu đi lại của người dân vẫn duy trì ở mức tương đối ổn định bất kể hoàn cảnh, thậm chí có thể tăng lên trong một số tình huống cụ thể như khi hệ thống giao thông công cộng bị gián đoạn do ngập lụt hoặc hư hỏng; (ii) nhóm này có lợi thế lớn về tính linh hoạt và khả năng di chuyển, họ có thể dễ dàng điều chỉnh khu vực hoạt động, di chuyển từ các vùng bị ảnh hưởng nặng sang các khu vực ít bị ảnh hưởng hơn để tìm kiếm khách hàng; (iii) sự phát triển của các ứng dụng gọi xe công nghệ đã tạo ra một mạng lưới nhu cầu rộng hơn và ổn định hơn so với xe ôm truyền thống chỉ phụ thuộc vào khách vãng lai.
Hơn 80% lao động gặp vấn đề sức khỏe do thời tiết cực đoan
Bên cạnh thu nhập, sức khỏe của lực lượng phi chính thức này cũng chịu tác động trực tiếp, gián tiếp từ biến đổi khí hậu, đặc biệt là phụ nữ. Họ vừa phải làm việc trong điều kiện khắc nghiệt để kiếm sống với mức thu nhập thấp hơn nam giới, vừa phải đảm nhận các công việc chăm sóc gia đình như nấu ăn, chăm con, những công việc không được trả công nhưng tốn nhiều sức lực và thời gian. Kết quả là dù có thu nhập thấp hơn nhưng sức khỏe của họ lại suy giảm nghiêm trọng hơn nhiều so với nam giới trong cùng điều kiện làm việc.
Khá bất ngờ, LĐNT tại TP.HCM dù có thu nhập cao thứ hai trong 4 địa phương nghiên cứu với 6,99 triệu đồng/tháng (chỉ sau Hà Nội) nhưng dữ liệu ghi nhận 32% LĐNT có sức khỏe kém hoặc rất kém. Ngược lại, Cần Thơ dù thu nhập thấp hơn (trung bình 5,87 triệu đồng/tháng/người) nhưng chỉ có 12% người lao động có sức khỏe kém.
Nhiều yếu tố đan xen dẫn đến nghịch lý này, gồm (i) áp lực đô thị hóa mạnh mẽ ở TP.HCM khiến người lao động phải làm việc căng thẳng hơn để đáp ứng nhịp sống nhanh của thành phố lớn; (ii) chi phí sinh hoạt cao đặc biệt là nhà ở và sinh hoạt phí, khiến dù thu nhập cao hơn nhưng thực chất không đủ để đảm bảo một cuộc sống ổn định; (iii) điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn do mật độ giao thông dày đặc và tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, cùng với sự thiếu vắng các mạng lưới hỗ trợ cộng đồng. Những mạng lưới này vẫn còn khá bền vững ở các thành phố nhỏ hơn như Cần Thơ, nơi mà mối quan hệ láng giềng và cộng đồng vẫn còn gắn kết chặt chẽ.
Mưu sinh giữa mưa gió. Ảnh: Báo Thanh Niên
Nhìn tổng thể, 81,5% người lao động, tức 326 trong số 400 người được khảo sát, đã gặp ít nhất một triệu chứng sức khỏe liên quan đến thời tiết cực đoan trong 12 tháng qua. Đây là một tỷ lệ rất cao, cho thấy gần như tất cả mọi người trong nhóm lao động này đều bị ảnh hưởng về sức khỏe do điều kiện làm việc ngoài trời.
Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm đau đầu và chóng mặi với 64,8%, cảm lạnh hoặc cúm với 62,5%, say nắng hoặc kiệt sức do nóng với 60,5%, và đau cơ xương khớp cũng với 60,5%. Tất cả những triệu chứng này đều có hơn 60% người lao động gặp phải, cho thấy đây không phải là những vấn đề cá biệt mà là những rủi ro sức khỏe phổ biến và nghiêm trọng của nghề lao động ngoài trời.
Đặc biệt đáng chú ý và đáng lo ngại là tỷ lệ say nắng hoặc kiệt sức do nóng lên đến 60,5%, nghĩa là hơn 6 trong 10 người lao động đã trải qua triệu chứng nguy hiểm này. Say nắng và kiệt sức do nhiệt không chỉ là những triệu chứng khó chịu, mà còn là tình trạng y khoa nguy hiểm có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như đột quỵ do nhiệt, suy thận, và thậm chí tử vong nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời.
Tỷ lệ cao này cho thấy mức độ phơi nhiễm nhiệt nghiêm trọng và kéo dài mà người lao động ngoài trời đang phải đối mặt hàng ngày, đồng thời cảnh báo về nguy cơ tiềm ẩn của các ca bệnh nặng và tử vong do nhiệt trong tương lai nếu không có các biện pháp can thiệp và bảo vệ kịp thời và hiệu quả.
Khuê Anh
______________
* Báo cáo do Viện Nghiên cứu Đời sống Xã hội thực hiện với sự hợp tác của National Centre for Social Research (Vương quốc Anh).