Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt lớn về chính sách thuế khi các hộ, cá nhân kinh doanh chính thức chuyển sang nộp thuế theo hình thức tự kê khai, thay cho thuế khoán. Sự chuyển đổi hướng đến minh bạch hóa nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ kinh doanh nhưng bước đầu thực hiện đâu đó vẫn có sự khó khăn, tranh cãi.
Ghi nhận những ý kiến đóng góp để kiện toàn chính sách thuế hộ kinh doanh, mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các nghị định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp, qua đó chính thức nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế cho hộ kinh doanh lên 1 tỷ đồng/năm, cao gấp đôi mức cũ là 500 triệu đồng/năm.
TheLEADER đã có buổi trò chuyện với ông Lê Văn Tuấn, chuyên gia thuế, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, để làm rõ những căn cứ đằng sau con số 1 tỷ đồng/năm, cũng như những đề xuất cho cơ quan thuế để tiếp tục kiện toàn chính sách theo hướng công bằng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi để hàng triệu hộ, cá nhân kinh doanh trên khắp đất nước.
Nghị định 141/2026/NĐ-CP đã chính thức nâng ngưỡng chịu thuế hộ kinh doanh từ 500 triệu đồng lên 1 tỷ đồng/năm, tương đồng với nhiều ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà tư vấn và ngay cá nhân ông. Theo ông, đâu là nguyên nhân cần nâng ngưỡng chịu thuế đối với hộ kinh doanh, và vì sao ngưỡng 1 tỷ đồng được cho là sát với thực tế hơn so với ngưỡng hiện hành?
Ông Lê Văn Tuấn: Nếu chúng ta dùng quy định cũ, quan điểm cũ để đánh giá và đưa ra ngưỡng mới hay quy định mới, thì đôi khi, quy định đó sẽ không còn phù hợp với thực tế và môi trường kinh doanh trong giai đoạn mới. Bởi lẽ, tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng như thế giới, thay đổi rất nhanh và thay đổi từng ngày.
Xét về nghĩa vụ thuế, hộ kinh doanh cần đóng 2 loại thuế, gồm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas.
Với thuế giá trị gia tăng, đây là loại thuế mà người tiêu dùng phải trả, do đó, xét về nguyên tắc, hộ kinh doanh bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao nhiêu đều phải tính thuế giá trị gia tăng vào giá bán để thu từ người tiêu dùng và nộp lại cho Nhà nước, không phân biệt doanh thu bao nhiêu.
Đối với thuế thu nhập cá nhân, xét về nguyên tắc, hộ kinh doanh phải có thu nhập mới phải đóng thuế.
Xét mức lợi nhuận tạo ra trên doanh thu, nếu giả định để hộ kinh doanh có lãi, họ phải tạo ra một khoản doanh thu tối thiểu 1,5 tỷ đồng/năm, từ đó mới tạo ra khoản lợi nhuận tương đương 150 - 200 triệu đồng một năm để thực hiện nghĩa vụ thuế.
Những ngành nghề có biên lợi nhuận thấp, như phân phối, bán lẻ, tạp hóa, cần một mức doanh thu lớn hơn để tạo ra lợi nhuận đóng thuế.
Xét theo logic này, ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm để đóng thuế sẽ thiếu sự phù hợp trên thực tế và thiếu cả sự công bằng với hộ kinh doanh.
Bởi lẽ, với 500 triệu đồng doanh thu, hộ kinh doanh chưa tạo ra được lợi nhuận để đóng thuế. Dù chưa kể chi phí giá vốn của hoạt động kinh doanh, thì sau khi trừ chi phí lao động của chủ hộ và người thân tham gia, hộ kinh doanh chắc chắn lỗ.
Trong khi người lao động đã được giảm trừ 186 triệu đồng/năm, nếu có người phụ thuộc thì mức giảm trừ còn cao hơn, mà không phải gánh chịu bất kỳ rủi ro của hoạt động kinh doanh. Điều này là thiếu sự công bằng với hộ kinh doanh trong môi trường kinh doanh nhiều rủi ro.
Chính sách thuế hộ kinh doanh cần đạt được tổng hòa các yếu tố khi thực hiện. Đó là hài hòa nghĩa vụ thuế của hai loại thuế, hài hòa các yếu tố khác khi thực hiện chính sách thuế, như có gây khó khăn cho hệ thống ngành thuế không, người dân có dễ hiểu, có dễ áp dụng không; có đồng bộ với các quy định khác không, ví dụ có tương thích ngưỡng xuất hóa đơn điện tử không.
Khi đó, ngưỡng 1 tỷ đồng sẽ phù hợp hơn khi thực hiện chính sách trên thực tế.
Tuy nhiên, nếu ngưỡng 1 tỷ đồng chỉ áp dụng tính thuế phần vượt cho thuế thu nhập cá nhân, mà không áp dụng cho thuế giá trị gia tăng, thì vô hình chung, sẽ làm nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân thiếu sự hợp lý với đa số ngành nghề.
Đồng thời, sẽ tạo ra tiêu cực khi thực hiện chính sách thuế, bởi lẽ, người dân có xu hướng tách sổ, hay thiếu động lực kinh doanh vượt ngưỡng. Do đó, ngưỡng 1 tỷ đồng nên áp dụng tính thuế phần doanh thu vượt ngưỡng cho cả hai loại thuế.
Như ông nói, hộ kinh doanh ở những lĩnh vực khác nhau có biên lợi nhuận khác biệt rất lớn. Vậy, việc đề xuất điều chỉnh ngưỡng chịu thuế lên 1 tỷ đồng liệu có phù hợp với tất cả các hộ kinh doanh đang hoạt động? Liệu chúng ta có cần một cơ chế linh hoạt hơn, áp dụng riêng ngưỡng chịu thuế cho từng lĩnh vực nhất định?
Ông Lê Văn Tuấn: Chúng ta đều đồng ý với nhau rằng, mỗi ngành nghề sẽ có một biên lợi nhuận khác nhau. Một số ít ngành nghề như dịch vụ, với doanh thu 500 triệu đồng đã tạo ra lợi nhuận, nhưng cũng có đa số ngành nghề mà doanh thu phải 1,5 tỷ đồng, thậm chí 2 tỷ hay 3 tỷ đồng mới tạo ra lợi nhuận.
Ngay trong cùng một ngành nghề, cũng có sự khác biệt lớn về mức doanh thu tạo ra lợi nhuận. Ví dụ, bán lẻ, tạp hóa thì biên lợi nhuận thấp, phải cần đến doanh thu 3 tỷ đồng để tạo ra lợi nhuận đóng thuế. Nhưng cũng là ngành nghề thương mại, nếu bán các sản phẩm sức khỏe, thực phẩm chức năng…thì biên lợi nhuận lớn. Với ngành nghề này thì chỉ cần 1 tỷ đồng doanh thu, cũng đã tạo ra lợi nhuận tốt để đóng thuế.
Như vậy, sẽ rất khó khăn và phức tạp khi xác định ngưỡng đóng thuế của từng ngành nghề, từng sản phẩm.
Về lý thuyết, việc đưa ra ngưỡng tính thuế cho từng lĩnh vực cụ thể, là có thể thực hiện, nhưng cái giá cho việc thực hiện chính sách đó là sự phức tạp của chính sách thuế, gánh nặng chi phí tuân thủ, chi phí giám sát nghĩa vụ thuế sẽ rất cao…Cái giá khi thực hiện chính sách này là không hề nhỏ. Do đó, chính sách này sẽ không đạt được hiệu quả thu thuế.
Khi thực hiện một chính sách thuế, cần đảm bảo chính sách đó đạt được hiệu quả thu thuế, người dân dễ hiểu và dễ áp dụng, không tăng gánh nặng chi phí tuân thủ, không gây khó khăn cho hệ thống của ngành thuế và cũng không tăng áp lực công việc của cán bộ thuế.
Đó là lý do, ngưỡng miễn thuế chung cho tất cả ngành nghề sẽ đơn giản hơn khi thực hiện và phù hợp với thực tế giai đoạn này.
Ngoài ra, thuế suất của từng ngành nghề cũng đã được thiết kế theo từng lĩnh vực, đó là thương mại: 1,5% doanh thu; nhà hàng, sản xuất là 4,5% doanh thu, hay dịch vụ là 7% doanh thu. Do đó, sẽ không cần thiết tạo ra sự phức tạp khi đưa ra ngưỡng tính thuế của từng lĩnh vực kinh doanh.
Các lĩnh vực khác nhau cũng có sự khác biệt lớn về biên lợi nhuận nhưng rất khó để đưa ra ngưỡng tính thuế cho từng lĩnh vực cụ thể. Ảnh: Hoàng Anh.
Việc đề xuất nâng ngưỡng chịu thuế phản ánh một thực tế rằng ngành thuế nói riêng và bộ máy quản lý nhà nước nói chung đang rất quan tâm và mong muốn kiện toàn chính sách thuế cho hộ kinh doanh theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người nộp thuế nhưng vẫn đảm bảo tính minh bạch, công bằng. Vậy, bên cạnh việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế, ông có đề xuất gì khác cho cơ quan hoạch định chính sách để đảm bảo mục tiêu đó?
Ông Lê Văn Tuấn: Với doanh thu dưới 1 tỷ đồng, hộ, cá nhân kinh doanh nhóm 1 sẽ được miễn cả hai loại thuế, là thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Chính sách hiện nay hỗ trợ mạnh mẽ nhóm hộ kinh doanh yếu thế, thu nhập thấp trong xã hội và cũng khuyến khích hộ, cá nhân mới ra kinh doanh có một khoản không gian thích nghi trước khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ tuân thủ khác.
Hay nói chính xác hơn, hộ kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng 1 tỷ đồng, được thiết kế chính sách hỗ trợ tối đa, với chi phí tuân thủ thấp nhất có thể.
Tuy nhiên, ngưỡng doanh thu mới của nhóm 2 sẽ là từ 1 – 3 tỷ đồng. Điều này dẫn đến phát sinh 2 vấn đề:
Thứ nhất, khoản cách doanh thu của ngưỡng này quá ngắn, chỉ chênh nhau 2 tỷ đồng. Dẫn đến việc dễ nhảy nhóm trong quá trình kinh doanh. Bởi lẽ, dưới nhóm này là nhóm 1 nhiều quyền lợi, nhưng trên nhóm này là nhóm 3 nhiều gánh nặng chi phí tuân thủ. Ở giữa là nhóm này, với gánh nặng tiền thuế bổ sung, trong khi lợi nhuận tạo ra chưa đủ lớn.
Thứ hai, khi doanh thu vượt trên 1 tỷ đồng, thì thuế giá trị gia tăng lại tính từ đồng doanh thu đầu tiên.
Một cách cụ thể, khi doanh thu vượt qua ngưỡng 1 tỷ đồng, hộ kinh doanh nhóm 2 sẽ nộp bổ sung khoản thuế giá trị gia tăng theo ngành nghề, cụ thể với doanh thu chỉ 1,001 tỷ đồng, tức vượt ngưỡng một con số rất nhỏ, hộ, cá nhân kinh doanh phải đóng thuế giá trị gia tăng bổ sung tương ứng khoảng 10.000.000 đồng cho lĩnh vực thương mại (1%), 30.000.000 đồng cho lĩnh vực nhà hàng, sản xuất (3%); hay 50.000.000 đồng cho hoạt động dịch vụ (5%).
Liệu hộ kinh doanh có động lực tiếp tục kinh doanh không, khi họ không chắc doanh thu và lợi nhuận tạo ra có đủ để bù đắp khoản thuế phát sinh thêm?
Chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas.
Điều này dẫn đến vấn đề, liệu hộ kinh doanh có động lực tiếp tục kinh doanh không, khi họ không chắc doanh thu và lợi nhuận tạo ra có đủ để bù đắp khoản thuế phát sinh thêm?
Bởi lẽ, khi doanh thu dưới 1 tỷ đồng, hộ, cá nhân kinh doanh được miễn thuế giá trị gia tăng, do đó, họ sẽ không thu thuế giá trị gia tăng của người mua.
Nhưng khi doanh thu vượt 1 tỷ đồng, quy định yêu cầu phải tính thuế giá trị gia tăng từ đồng doanh thu đầu tiên. Tức, hộ, cá nhân kinh doanh phải trả tiền thuế giá trị gia tăng này, trong khi trên thực tế, họ đã không thu được từ người tiêu dùng.
Đó là điểm bất hợp lý về mặt chính sách thuế.
Điều này sẽ tạo ra hệ lụy lớn cho xã hội, khi một bộ phận hộ kinh doanh không mong muốn trốn thuế, nhưng lại không đành lòng nộp lại khoản tiền thuế bổ sung. Cảm giác dằn vặt giữa lợi ích và nghĩa vụ, buộc họ phải lựa chọn. Và chắc chắn rằng, sẽ có nhiều người lựa chọn không tuân thủ nghĩa vụ, dù bản thân họ không muốn.
Khi chênh lệch lợi ích quá lớn, một hệ quả khác sẽ xảy ra, đó là hộ kinh doanh có nhu cầu tách nhỏ giấy phép kinh doanh để được hưởng quyền lợi ngưỡng miễn thuế 1 tỷ đồng.
Do đó, ngưỡng doanh thu miễn thuế 1 tỷ đồng nên tính thuế phần doanh thu vượt ngưỡng và áp dụng cho cả hai loại thuế.
Trong khi đó, đối với hộ, cá nhân kinh doanh nhóm 3 (doanh thu từ 3 - 50 tỷ đồng), khoảng cách ngưỡng quá xa và chi phí tuân thủ cao cho đầu nhóm.
Thứ nhất, nhóm 3 không được trừ ngưỡng 1 tỷ đồng, tính thuế giá trị gia tăng theo % doanh thu, tính thuế thu nhập cá nhân theo % lợi nhuận. Do đó, nhóm 3 không nhận được bất kỳ hỗ trợ nào như nhóm 1 (được miễn cả hai loại thuế) hoặc nhóm 2 (được trừ 1 tỷ đồng khi tính thuế thu nhập cá nhân).
Thứ hai, khoản cách ngưỡng doanh thu quá dài, từ 3 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, trong khi chi phí tuân thủ lớn khi thực hiện chính sách thuế, nhưng lợi nhuận tạo ra không đồng đều để bù đắp chi phí tuân thủ.
Nói một cách dễ hiểu hơn, khi doanh thu của hộ kinh doanh chỉ đạt quanh 3 tỷ đồng, 5 tỷ đồng hay 7 tỷ đồng, chi phí tuân thủ lớn sẽ ăn mòn lợi nhuận của hộ kinh doanh. Trong khi, hộ kinh doanh đạt doanh thu 40 tỷ đồng, hay gần 50 tỷ đồng, chi phí tuân thủ cao hơn một chút, nhưng lợi nhuận tạo ra lớn hơn, đủ để bù đắp chi phí tuân thủ.
Điều này tạo ra cảm giác bất bình đẳng khi so sánh trong cùng một nhóm doanh thu.
Thứ ba, hộ kinh doanh nhóm 3 được chuyển thẳng từ phương pháp tính thuế khoán, sang phương pháp tính thuế theo lợi nhuận, bỏ qua phương pháp tính thuế theo % doanh thu.
Hay nói chính xác hơn, hộ kinh doanh nhóm 3 thiếu giai đoạn chuyển tiếp và thích nghi khi thực hiện chính sách thuế.
Bởi lẽ, nguyên tắc cơ bản khi thay đổi một chính sách thuế lớn, là cần có một giai đoạn thích nghi và chuyển tiếp, tối thiểu 1.5 – 2 năm, giúp người nộp thuế quen dần một phương pháp tính thuế mới.
Điều này dẫn đến một vấn đề. Đó là hộ kinh doanh nhóm 3 chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để chuẩn bị hóa đơn, chứng từ, hợp đồng, thanh toán…để đáp ứng các điều kiện cần thiết khi ghi nhận chi phí được trừ khi tính thuế.
Khi chưa đủ khả năng chuẩn bị hóa đơn, chứng từ hợp lệ để thực hiện nghĩa vụ thuế theo lợi nhuận, chính bản thân hộ kinh doanh nhóm 3 sẽ chịu nhiều thiệt thòi, bởi lẽ, nhiều chi phí thực tế sẽ không được cơ quan thuế chấp nhận.
Chúng ta nên sử dụng năm 2026 làm năm cơ sở và cho phép hộ kinh doanh lựa chọn phương pháp tính thuế theo phần trăm doanh thu hay lợi nhuận trong năm 2026.
Chuyên gia thuế Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas.
Việc xóa bỏ thuế khoán và chuyển sang thuế kê khai là phù hợp với xu hướng thực tế hiện nay. Tuy nhiên, việc thay đổi phương pháp tính thuế hộ kinh doanh từ phương pháp khoán sang tính theo lợi nhuận, bỏ qua giai đoạn tính thuế theo kê khai % doanh thu thực tế, là một thay đổi quá lớn đối với hộ kinh doanh.
Do đó, xét trên quan điểm cá nhân của tôi, chúng ta nên sử dụng năm 2026 làm năm cơ sở và cho phép hộ kinh doanh lựa chọn phương pháp tính thuế theo phần trăm doanh thu hay phần trăm lợi nhuận trong năm 2026.
Từ 2027 trở đi, khi hộ kinh doanh đã có doanh thu thực tế của năm 2026, thì doanh thu của năm 2026 sẽ là cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh theo từng mốc doanh thu.
Điều này giúp cơ sở xác định nghĩa vụ thuế chính xác hơn, hộ kinh doanh có thời gian chuẩn bị và thích nghi, Nhà nước có thời gian tiếp nhận ý kiến để ban hành chính sách phù hợp hơn với thực tế, cơ quan thuế có thời gian chuẩn bị hệ thống phù hợp với chính sách thuế mới.
Xin cảm ơn ông!
Phạm Sơn