Chân dung nhà thơ Thanh Kỳ. Ảnh H.S
Nhà thơ Thanh Kỳ (1930 - 2012) tên thật Hà Kỉnh, sinh tại làng Ngũ Giáp, xã Điện Thắng; nay là khối phố Phong Ngũ (phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng).
Đăk Glei - miền ký ức thi ca
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt hai miền theo Hiệp định Genève. Trong hoàn cảnh lịch sử đầy thử thách ấy, là một trí thức trẻ giàu nhiệt huyết và bản lĩnh, ông được tổ chức tin tưởng phân công ở lại miền Nam tiếp tục hoạt động. Địa bàn ông phụ trách là H40 - vùng rừng núi heo hút thuộc huyện Đắk Glei (Kon Tum cũ), nay là xã Đắk Pék, tỉnh Quảng Ngãi.
Đó là vùng căn cứ cách mạng nằm giữa đại ngàn Trường Sơn, địa hình hiểm trở, mưa rừng dầm dề, suối sâu, dốc đứng. Trong điều kiện hoạt động bí mật, đối mặt với sự kiểm soát gắt gao của chính quyền Sài Gòn bấy giờ, ông vừa làm công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, vừa tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, gây dựng niềm tin trong đồng bào các dân tộc.
Cuộc sống gian khổ giữa núi rừng không làm nhạt đi tâm hồn thi sĩ; trái lại, chính thiên nhiên hùng vĩ và tình người Tây Nguyên đã trở thành nguồn cảm hứng sâu xa nuôi dưỡng tâm hồn thi ca trong ông.
Những đêm lửa trại bên tiếng cồng chiêng, những buổi hành quân qua rừng già mịt mù sương, dáng người mẹ gùi lúa trên nương hay ánh mắt trong veo của em nhỏ giữa bản làng… tất cả lặng lẽ thấm vào những trang thơ nhiều cung bậc cảm xúc.
Từ Đắk Glei, ông đã thai nghén và sáng tác nhiều vần thơ mộc mạc mà thấm đẫm chất sử thi, chan hòa âm hưởng núi rừng. Tây Nguyên trong thơ ông không chỉ là không gian địa lý, mà là miền ký ức, là mảnh đất ân tình, nơi thử thách và cũng là nơi nâng đỡ tâm hồn.
Có thể nói, chính những năm tháng hoạt động ở vùng H40 đã để lại dấu ấn sâu đậm trong hành trình sáng tác của ông. Thi ca trở thành người bạn đồng hành giữa chiến khu, là tiếng nói của niềm tin và khát vọng, là nhịp cầu nối giữa người trí thức trẻ với đồng bào Tây Nguyên. Và từ đại ngàn ấy, những bài thơ về Đắk Glei và Tây Nguyên đã ra đời - vừa bi tráng, vừa thiết tha, mang âm vang dài lâu trong đời thơ ông.
Trong tập sách Văn học viết Kon Tum 1930 - 1975 (NXB Lao động, 2022, trang 100), nhà văn Tạ Văn Sỹ đã ghi nhận Thanh Kỳ như một gương mặt có đóng góp cho dòng văn học viết Kon Tum giai đoạn 1954 - 1975. Sự ghi nhận ấy cho thấy thơ ông không chỉ là tiếng lòng riêng, mà còn là một phần ký ức văn chương của vùng đất.
Thơ của nỗi nhớ và lòng yêu nước
Dù ở chiến khu hay nơi công tác, mạch nguồn sâu thẳm trong thơ Thanh Kỳ vẫn là quê hương và mẹ. Thanh Kỳ không chủ trương cách tân hình thức, không tạo “trường phái”, không xuất hiện ồn ào. Nhưng thơ ông neo vào ký ức quê hương, vào nghĩa tình, vào những năm tháng chiến tranh và những trăn trở nhân sinh.
Trong bài viết “Thanh Kỳ - nửa đời chiến trận, nửa đời thơ” in trong tập Ký ức quê nhà (Sở VH-TT&TT Quảng Nam, 2013), tác giả Hà Cung đã khái quát cuộc đời ông bằng một câu giản dị mà xác đáng: “Nửa đời chiến trận, nửa đời thơ”. Thực ra, với Thanh Kỳ, hai nửa ấy chưa bao giờ tách rời. Chiến trận hun đúc thi ca, còn thi ca giữ cho tâm hồn người lính luôn mềm lại trước cuộc đời.
Ông đã về miền mây trắng, nhưng để lại cho đời những vần thơ đậm dấu ấn - mang hồn quê xứ Quảng, mang hơi thở đại ngàn Đắk Glei, mang nỗi nhớ mẹ, nhớ người và cả những suy tư thăm thẳm về phận người giữa vũ trụ bao la.
HÀ SÁU