Trò chuyện về văn hóa Mường với người con xứ Mường

Trò chuyện về văn hóa Mường với người con xứ Mường
2 giờ trướcBài gốc
Em hãy chia sẻ về con đường học tập, vượt qua những vất vả để có được tấm bằng Tiến sĩ đầy mơ ước?
- Bây giờ nhìn lại em mới thấy, em và những đứa trẻ trong làng lớn lên trong hoàn cảnh mà làng thuộc diện đặc biệt khó khăn, nên việc được đến trường đã là một may mắn, cần có sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước và gia đình. Một ngôi làng mà ở ngay thời điểm hiện tại, việc hoàn thành việc học cấp 3 (trung học phổ thông) vẫn còn đang rất khó nhọc thì việc nuôi dưỡng ước mơ học lên đại học và sau đại học là một khát vọng rất khó để hiện thực hóa.
Bản thân em có là lẽ một người cực kỳ may mắn vì gia đình em chủ trương đầu tư cho con cái học hành đến nơi đến chốn, bố mẹ em có thể bán hết tài sản để cho em đi học và thực tế em chưa phải thiếu thốn bất cứ một thứ gì trong suốt quá trình học cả.
Thêm vào đó, từ năm 2025 trở về trước, thôn của em thuộc diện đặc biệt khó khăn nên được hưởng các chính sách hỗ trợ, khuyến khích học tập. May mắn hơn cả là suốt hành trình học tập của em đều gặp những thầy cô cực kỳ tận tâm và thương học trò. Tóm lại, em may mắn có được sự ủng hộ của gia đình, Nhà nước, thầy cô. Em nghĩ không phải bạn nào cũng có đủ cả ba sự may mắn đó.
Như em nói ở trên, hồi đó em khó khăn mà không hề biết là mình đang khó khăn. Vì thế, cuộc sống của em rất vui vẻ và không bao giờ thấy chán nản.
Tại sao em chọn nghiên cứu về người Mường, phải chăng nó chứa đựng nhiều vẻ đẹp bí ẩn mà nhiều người chưa biết được?
- Văn hóa Mường từ lâu đã trở thành một địa hạt hấp dẫn, vừa thu hút, vừa thách thức các nhà nghiên cứu nhân học, dân tộc học, lịch sử và đặc biệt là các nhà nghiên cứu folklore. Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, người Mường sở hữu một hệ thống tri thức dân gian, văn học truyền miệng, nghi lễ và phong tục tập quán phong phú, phản ánh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa bền vững của một cộng đồng có vị trí đặc biệt trong tiến trình hình thành văn hóa dân tộc.
Với tư cách là một thành viên của cộng đồng người Mường ở Hòa Bình, em sớm nhận thức rằng nghiên cứu văn hóa Mường không chỉ là một lựa chọn học thuật, mà còn là nguyện vọng, là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ hậu bối trong việc tìm hiểu, gìn giữ và phát huy những giá trị di sản văn học, văn hóa độc đáo mà cha ông để lại. Sự gắn bó về huyết thống, không gian văn hóa và ký ức cộng đồng đã thôi thúc em tiếp cận đối tượng nghiên cứu không chỉ bằng lý trí khoa học, mà còn bằng tình cảm, sự trân trọng và ý thức trách nhiệm sâu sắc trong việc gìn giữ và quảng bá các giá trị văn hóa tốt đẹp mà cha ông đã dày công sáng tạo.
Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, khi nhiều giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, việc nghiên cứu và hệ thống hóa di sản văn hóa Mường càng trở nên cấp thiết. Em cho rằng, việc nghiên cứu nghiêm túc, khoa học và gắn với cộng đồng, không chỉ góp phần làm sáng tỏ những giá trị văn hóa đặc sắc của người Mường, mà còn đóng góp thiết thực vào công cuộc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong kỷ nguyên mới.
Khi chọn nghiên cứu về người Mường, điều gì khiến em lý thú về họ, đặc biệt là sự sáng tạo trong đời sống văn hóa mà nhiều người không ngờ đến?
- Thật em nghiên cứu về Mường là nghiên cứu về em, về cộng đồng của em chứ không phải họ. Điều khiến em thực sự say mê và tò mò khi nghiên cứu văn hóa Mường chính là khả năng sáng tạo và tư duy nguyên sơ rất độc đáo của cha ông mình. Từ cách tổ chức xã hội, không gian nhà ở, nghi lễ vòng đời, đến các hình thức diễn xướng dân gian như mo, hát ru, truyện kể… tất cả đều thể hiện một tư duy linh hoạt, giàu biểu tượng và tính nhân văn sâu sắc.
Người Mường không chỉ gìn giữ truyền thống mà còn biết thích ứng với hoàn cảnh mới bằng những hình thức sáng tạo riêng. Chẳng hạn, nhiều nghi lễ cổ truyền đã được điều chỉnh để phù hợp với nhịp sống hiện đại nhưng vẫn giữ được cốt lõi tinh thần. Trang phục truyền thống, ẩm thực, tri thức canh tác, y học dân gian… đều cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm lâu đời và nhu cầu thực tiễn.
Điều đặc biệt là sự sáng tạo ấy không xuất phát từ cá nhân riêng lẻ mà mang tính cộng đồng rất cao. Mỗi người đều là một “chủ thể văn hóa”, khiến cho mỗi một giá trị văn hóa đều là một chỉnh thể hoàn chỉnh, được duy trì và tái tạo thông qua các hoạt động sinh hoạt thực hành. Chính tính cộng đồng, tính liên tục và khả năng tự điều chỉnh này khiến văn hóa Mường không bị “đóng băng” mà luôn vận động, thích nghi và tái tạo.
Là một nhà nghiên cứu, những vấn đề em thấy đang lo ngại, báo động về bản sắc dân tộc trong bối cảnh xã hội hiện nay là gì, đặc biệt về ngôn ngữ, tập tục?
- Vấn đề đáng lo ngại nhất chính là sự suy giảm vai trò của ngôn ngữ mẹ đẻ và sự đứt gãy trong việc truyền thừa các tập tục truyền thống. Bởi ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là “kho chứa ký ức văn hóa”, là nơi lưu giữ thế giới quan, nhân sinh quan và tri thức dân gian của cộng đồng. Vì thế, khi thế hệ trẻ ít sử dụng tiếng Mường trong đời sống hằng ngày, nguy cơ mất mát không chỉ là từ ngữ mà còn là cả một hệ thống tri thức đi kèm.
Thêm vào đó, nhiều tập tục, nghi lễ, phong tục truyền thống đang bị giản lược hoặc biến đổi nhanh chóng dưới tác động của kinh tế thị trường, truyền thông đại chúng và lối sống đô thị. Một số giá trị văn hóa bị thương mại hóa, sân khấu hóa quá mức, dẫn đến nguy cơ làm mất đi tính thiêng và xa rời cộng đồng chủ thể.
Điều đáng báo động hơn là sự suy giảm vai trò của các “chủ thể văn hóa”, đặc biệt là sự suy giảm vai trò của các Thầy Mo, Thầy Trượng, Bà Mỡi… những “kho tri thức sống” trong đời sống đương đại. Khi họ không còn được lắng nghe, tôn trọng và thiếu thế hệ kế tục, quá trình truyền thừa văn hóa sẽ bị gián đoạn hoặc không đầy đủ.
Phóng viên trò chuyện với Tiến sĩ Bùi Văn Niên. (Ảnh trong bài: NVCC)
Hãy chia sẻ thêm về cuốn sách em chuẩn bị ra mắt. Công trình này được thực hiện trong bao lâu và hành trình thu nhận dữ liệu cho sách?
- Cuốn sách là kết quả của một quá trình nghiên cứu dài hơi, kéo dài nhiều năm, bắt đầu từ lúc em bắt đầu làm khóa luận tốt nghiệp (2015) và kéo dài liên tục đến luận văn thạc sĩ (2017) và cuối cùng là quá trình làm luận án Tiến sĩ (2025). Đây không chỉ là một công trình khoa học thuần túy mà còn là kết tinh của hàng trăm ngày điền dã, phỏng vấn, quan sát và sống cùng cộng đồng người Mường tại nhiều địa phương khác nhau như: Mường Măng, Mường Cốc, Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động… trong tỉnh Hòa Bình (cũ). Thật may, khi em thu thập được các dữ liệu về văn hóa Mường thì cũng là lúc đồng tác giả (là cô giáo của em) đã đạt được những thành tựu đáng kể trong nghiên cứu về lý thuyết phê bình cổ mẫu.
Cuốn sách không chỉ mô tả các hiện tượng văn hóa mà còn cố gắng lý giải logic nội tại trong đời sống của người Mường, từ đó góp phần làm rõ suy nghĩ của người Mường về cách thức tổ chức thế giới, cách ứng xử với thiên nhiên, con người và những biến đổi xã hội.
Theo Niên, Nhà nước cần có thêm những chính sách gì dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có người Mường, để họ phát triển và phát huy đặc trưng riêng của mình?
- Trước hết, cần có sự rà soát kỹ lưỡng để đưa ra những đánh giá tổng thể, linh hoạt trong việc xác định các xã, thôn đặc biệt khó khăn, qua đó duy trì, thậm chí là tăng thêm chính sách hỗ trợ để trẻ em những vùng này được hưởng các chính sách hỗ trợ, trước hết là hỗ trợ về giáo dục.
Trên cơ sở nền tảng của chính sách giáo dục, cần tăng cường các chính sách bảo tồn và phát huy ngôn ngữ tộc người thông qua giáo dục song ngữ, đào tạo giáo viên là người bản địa, xây dựng tài liệu học tập phù hợp với từng cộng đồng.
Bên cạnh đó, việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể cần gắn với phát triển sinh kế bền vững cho người dân. Nghệ nhân, người giữ tri thức truyền thống cần được công nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện truyền dạy cho thế hệ trẻ thông qua các mô hình trường học cộng đồng, câu lạc bộ văn hóa, không gian văn hóa bản địa hoặc chương trình giáo dục địa phương. Điều này không chỉ giúp bảo tồn di sản mà còn tạo ra nguồn lực phát triển du lịch văn hóa, kinh tế sáng tạo một cách bền vững.
Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ cộng đồng chủ động tham gia vào quá trình hoạch định, thực hiện và giám sát các chương trình phát triển, để họ không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà trở thành chủ thể của sự phát triển. Việc tôn trọng tri thức bản địa, phong tục tập quán và cơ chế tự quản truyền thống cũng là yếu tố quan trọng giúp các chính sách đi vào đời sống một cách hiệu quả.
Cuối cùng, em cho rằng phát triển không nên đồng nghĩa với đồng nhất hóa. Chính sách cần tạo điều kiện để mỗi cộng đồng, trong đó có người Mường, được phát triển theo thế mạnh và bản sắc riêng, để vừa hội nhập với xã hội hiện đại, vừa giữ được bản sắc văn hóa cốt lõi.
Trong hơn một thập kỷ qua, Tiến sĩ Bùi Văn Niên đã tập trung nghiên cứu văn hóa Mường với trọng tâm là Mo Mường và đạt được những thành tựu đáng chú ý thông qua các đề tài nghiên cứu: Sự hình thành đất Mường và con người trong Mo Đẻ đất đẻ nước của người Mường Măng, xã Hưng Thi, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình (2015); Mo Mường Mường Măng (Lạc Thủy, Hòa Bình): Những giá trị và biến đổi (2017); và luận án Tiến sĩ Cổ mẫu trong Mo Mường (2025). Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần quan trọng vào việc hệ thống hóa và mở ra các hướng tiếp cận mới về Mo Mường.
Tiến sĩ Niên đã nhận Giải Nhì Giải thưởng Văn học nghệ thuật tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016 - 2020 cho công trình Mo Mường Mường Măng - Từ truyền thống đến hiện đại; Giải Ba B Giải thưởng Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2025 cho công trình Cổ mẫu trong Mo Mường.
Tuấn Ngọc (thực hiện)
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/tro-chuyen-ve-van-hoa-muong-voi-nguoi-con-xu-muong.html