Hướng tới mục tiêu hoàn thành 5.000km đường bộ cao tốc trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021–2030), trong 5 năm tới, hàng nghìn km đường cao tốc sẽ tiếp tục được đầu tư xây dựng.
Hình hài hơn 5.000km đường bộ cao tốc
Theo Vụ Kế hoạch – Tài chính (Bộ Xây dựng), Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hệ thống đường cao tốc Việt Nam sẽ gồm 41 tuyến với tổng chiều dài khoảng 9.000km, kết nối các trung tâm chính trị, kinh tế, các vùng động lực và cửa ngõ quốc tế.
Trong giai đoạn 2026–2030, chúng ta dự kiến hoàn thành 1.052km cao tốc đang thi công, bao gồm các tuyến: Hữu Nghị – Chi Lăng; Gia Nghĩa – Chơn Thành; Mỹ An – Cao Lãnh; Hòa Bình – Mộc Châu; Chợ Mới – Bắc Kạn; Ninh Bình – Hải Phòng; Đồng Đăng – Trà Lĩnh; Khánh Hòa – Buôn Ma Thuột; TP.HCM – Chơn Thành; Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng; Cao Lãnh – An Hữu; Vành đai 4 Hà Nội…
Bên cạnh đó, 460km thuộc các dự án đang chuẩn bị đầu tư cũng đã được bố trí vốn, gồm các tuyến như: Quy Nhơn – Pleiku; Dầu Giây – Tân Phú; Tân Phú – Bảo Lộc; TP.HCM – Mộc Bài; Vành đai 4 TP.HCM.
Ngoài ra, các dự án quan trọng, cấp bách (dự kiến hoàn thành 759km) đã được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo nghiên cứu đầu tư, hiện đang huy động nguồn vốn để triển khai, như: Cầu Cần Thơ 2 và đường dẫn (15km); Phú Thọ – Cổ Tiết – Chợ Bến (87km); Đức Hòa – Mỹ An (68km); Hòa Bình – Mộc Châu (đoạn Km0 – Km19); Bắc Kạn – Cao Bằng (87km); Ninh Bình – Hải Phòng (đoạn qua Hải Phòng – 18km); Đồng Đăng – Trà Lĩnh giai đoạn 2 (27km); Tuyên Quang – Hà Giang giai đoạn 2 (59km); Vinh – Thanh Thủy (65km); Cam Lộ – Lao Bảo (56km); Quảng Ngãi – Kon Tum (144km); Gò Dầu – Xa Mát (65km); Cà Mau – Đất Mũi (90km); Vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội (83km)…
Nếu các dự án trên đáp ứng tiến độ, đến năm 2030, tổng chiều dài đường bộ cao tốc trên cả nước sẽ đạt hơn 5.561km.
Một đoạn tuyến của cao tốc Quảng Ngãi - Hoài Nhơn. Ảnh: Hương Lê
Những bài học quý giá để chinh phục mốc 5.000km cao tốc
Từ thực tiễn triển khai hàng loạt dự án cao tốc trong những năm gần đây, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu 5.000km đường bộ cao tốc vào năm 2030.
Ông Phùng Đức Dũng, Trưởng phòng Quản lý đầu tư công (Cục Đường bộ Việt Nam) cho rằng, hành trình chinh phục mục tiêu đến 2030 đòi hỏi phải nhìn lại đầy đủ những vướng mắc nảy sinh trong thực tiễn triển khai, qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm xác đáng để tiếp tục hoàn thiện cách làm trong thời gian tới.
Thứ nhất, cải cách thủ tục đầu tư là điều kiện tiên quyết quyết định tiến độ dự án. Thực tiễn cho thấy, việc Quốc hội chấp thuận chủ trương đầu tư dự án gắn với các cơ chế, chính sách đặc thù đã tạo bước đột phá trong rút ngắn quy trình. Từ chỗ mất 3–4 năm cho các thủ tục đầu tư, hiện nay nhiều dự án chỉ cần khoảng 1–1,5 năm. Bài học đặt ra là cần tiếp tục duy trì cách làm này, mạnh dạn cắt bỏ những khâu trung gian không cần thiết, thống nhất quy trình giữa các luật liên quan như Luật Xây dựng, Luật PPP, Luật Đầu tư công để tạo “luồng xanh” cho các dự án hạ tầng trọng điểm.
Thứ hai, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm rõ ràng giúp dự án triển khai nhanh hơn. Việc không tập trung toàn bộ dự án cao tốc về một đầu mối, mà huy động các địa phương cùng tham gia đã chứng minh tính hiệu quả. Đây là bài học quan trọng trong bối cảnh khối lượng dự án lớn, thời gian gấp rút và bộ máy trung ương có giới hạn về nhân lực. Phân quyền mạnh hơn cho địa phương, đi kèm cơ chế kiểm soát tiến độ, chất lượng, sẽ là chìa khóa để tăng tốc triển khai.
Thứ ba, huy động nguồn lực xã hội theo phương thức PPP là hướng đi tất yếu. Thực tế cho thấy, nếu chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước, mục tiêu 5.000km cao tốc là rất khó đạt được. Việc nâng tỷ lệ vốn nhà nước tham gia trong các dự án PPP lên tới 60–70% ở một số dự án trọng điểm đã tạo sức hút lớn với nhà đầu tư tư nhân, nhất là trong bối cảnh chi phí giải phóng mặt bằng cao. Bài học đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý PPP theo hướng ổn định, chia sẻ rủi ro hợp lý để thu hút dòng vốn dài hạn từ khu vực tư nhân.
Thứ tư, vai trò của doanh nghiệp trong nước trong đầu tư và thi công đường cao tốc cần được phát huy. Từ những dự án cao tốc đầu tiên như Nội Bài – Lào Cai đến các tuyến cao tốc Bắc – Nam hiện nay, năng lực của doanh nghiệp Việt Nam đã được khẳng định rõ nét. Các doanh nghiệp trong nước đã có bước phát triển khá nhanh về tài chính, trình độ quản lý và hoàn toàn làm chủ công nghệ thi công đường cao tốc.
Hiện nay, pháp luật đã cho phép dự án PPP do nhà đầu tư đề xuất nếu không sử dụng vốn nhà nước (toàn bộ vốn đầu tư do nhà đầu tư huy động) thì được chỉ định nhà đầu tư. Đây cũng là chính sách mới, có tính đột phá, vừa rút ngắn thời gian, thủ tục đầu tư, vừa tạo điều kiện, cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng theo phương thức PPP, phù hợp với chủ trương, định hướng của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW).
Các doanh nghiệp trong nước đã có bước phát triển khá nhanh về tài chính, trình độ quản lý và hoàn toàn làm chủ công nghệ thi công đường cao tốc. Ảnh: Thế Bằng
Thứ năm, công tác giải phóng mặt bằng và vật liệu xây dựng phải đi trước một bước. Nhiều dự án chậm tiến độ, đội vốn cho thấy giải phóng mặt bằng và nguồn vật liệu là “điểm nghẽn” lớn nhất. Kinh nghiệm thực tế là phải coi giải phóng mặt bằng là một dự án độc lập, triển khai sớm, quyết liệt và có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, công tác quy hoạch, cấp phép mỏ vật liệu cần được địa phương chủ động thực hiện ngay từ đầu, tránh tình trạng thiếu hụt, biến động giá làm ảnh hưởng tiến độ thi công.
Thứ sáu, việc phối hợp liên ngành chặt chẽ giúp tháo gỡ các vướng mắc kỹ thuật. Việc giao trách nhiệm di dời hạ tầng kỹ thuật (điện, viễn thông) cho chính các đơn vị quản lý công trình thay vì chủ đầu tư đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm chậm trễ. Đây là bài học quan trọng về phối hợp liên ngành, cần tiếp tục nhân rộng để hạn chế tối đa các “nút thắt” phát sinh trong quá trình thi công.
Tổng hợp các bài học trên cho thấy, mục tiêu 5.000km đường bộ cao tốc vào năm 2030 không chỉ phụ thuộc vào nguồn vốn, mà quan trọng hơn là tư duy cải cách, cách tổ chức thực hiện và sự đồng hành của Nhà nước – doanh nghiệp – địa phương. Nếu những kinh nghiệm đã có tiếp tục được vận dụng nhất quán và quyết liệt, mục tiêu này hoàn toàn có thể hoàn thành.
Vũ Điệp