Theo số liệu mới được công bố của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong tháng 4/2026, vận tải hành khách đạt 509,5 triệu lượt, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 17,3% so với cùng kỳ; đồng thời, khối lượng luân chuyển đạt 28,4 tỷ lượt khách.km, tăng 4,8% so với tháng trước.
Tính chung bốn tháng đầu năm, vận tải hành khách đạt 2.102,3 triệu lượt, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước, trong khi luân chuyển đạt 113,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,7%.
Ở chiều hàng hóa, trong tháng 4, khối lượng vận chuyển đạt 274,2 triệu tấn, tăng 1,4% so với tháng trước, còn luân chuyển đạt 53,3 tỷ tấn.km, tăng 2,3%. Lũy kế bốn tháng, vận chuyển đạt 1.082,9 triệu tấn, tăng 14,2%, trong khi luân chuyển đạt 208,2 tỷ tấn.km, tăng 10,2%
TĂNG TRƯỞNG THEO CHIỀU RỘNG, PHÂN BỔ PHƯƠNG THỨC CHƯA DỊCH CHUYỂN
Bức tranh vận tải bốn tháng đầu năm cho thấy quy mô tiếp tục mở rộng, song theo nhận định của các chuyên gia, sự gia tăng này chủ yếu diễn ra theo chiều rộng, trong khi cơ cấu phân bổ giữa các phương thức vận tải chưa có sự chuyển dịch rõ rệt.
Ở vận tải hành khách, đường bộ tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với 1.904,6 triệu lượt trong tổng số 2.102,3 triệu lượt, tương đương khoảng 90,6% . Đồng thời, luân chuyển đạt 74,1 tỷ lượt khách.km, chiếm khoảng 65% tổng khối lượng.
Trong khi đó, hàng không đạt 20,6 triệu lượt, chiếm chưa đến 1% về vận chuyển, song lại đóng góp khoảng 34,6 tỷ lượt khách.km, tương đương gần 30% luân chuyển. Điều này phản ánh rõ vai trò của hàng không trong các hành trình dài, dù quy mô vận chuyển không lớn.
Số liệu vận tải hành khách bốn tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải. Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính.
Đối với các phương thức còn lại, đường thủy nội địa đạt 156,8 triệu lượt, chiếm khoảng 7,5%, trong khi đường sắt và đường biển chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ, lần lượt khoảng 0,8% và 0,2% . Đáng chú ý, vận tải hành khách đường biển giảm 13,9% bởi tuyến tàu tại Thành phố Hồ Chí Minh tạm ngừng hoạt động để bảo trì, đồng thời chịu ảnh hưởng của điều kiện dòng nước đến hoạt động tàu ra vào.
Ở vận tải hàng hóa, sự lệch pha trong phân bổ phương thức còn rõ nét hơn. Cụ thể, đường bộ vận chuyển 800,3 triệu tấn, chiếm khoảng 73,9% tổng khối lượng , tuy nhiên nếu xét theo luân chuyển, tỷ trọng này chỉ đạt khoảng 22,5%, phản ánh đặc trưng vận chuyển cự ly ngắn.
Ngược lại, vận tải biển chỉ chiếm chưa đến 5% khối lượng với 52,2 triệu tấn, nhưng lại đóng góp tới 112,0 tỷ tấn.km, tương đương hơn 53% tổng luân chuyển. Theo các chuyên gia, điều này cho thấy vai trò chủ lực của đường biển trong vận tải cự ly dài và xuất nhập khẩu.
Đường thủy nội địa đạt 228,6 triệu tấn, chiếm khoảng 21% khối lượng và hơn 21% luân chuyển, qua đó được đánh giá là phương thức có tiềm năng chia sẻ tải với đường bộ, dù chưa được khai thác tương xứng. Trong khi đó, đường sắt chỉ đạt 1,6 triệu tấn, giảm 6,8%, còn hàng không đạt 0,2 triệu tấn, chiếm tỷ trọng không đáng kể .
Số liệu vận tải hàng hóa bốn tháng đầu năm 2026 phân theo ngành vận tải. Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính.
Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, cấu trúc phân bổ hiện nay cho thấy hệ thống vận tải đang vận hành theo mô hình hai tầng, trong đó đường bộ đảm nhận vai trò phân phối chính ở cự ly ngắn và trung bình, còn đường biển giữ vai trò chủ đạo trong luân chuyển cự ly dài và hoạt động xuất nhập khẩu. Trong khi đó, các phương thức trung gian như đường sắt và đường thủy nội địa, dù có lợi thế về chi phí và khả năng chuyên chở khối lượng lớn, vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò trong việc chia sẻ tải cho hệ thống.
Trong bối cảnh đó, việc hoàn thành mục tiêu khoảng 3.000 km đường bộ cao tốc vào năm 2025 được cho là đã góp phần nâng cao năng lực kết nối và rút ngắn thời gian vận chuyển trên nhiều trục hành lang kinh tế. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, sự mở rộng hạ tầng đường bộ về quy mô chưa đồng nghĩa với thay đổi về cấu trúc vận tải, khi phần lớn lưu lượng vẫn tiếp tục tập trung vào một phương thức.
Do đó, để giảm chi phí vận tải và từng bước hạ tỷ trọng logistics trong nền kinh tế, các chuyên gia cho rằng cần thúc đẩy phát triển vận tải đa phương thức, trong đó tăng cường vai trò của đường sắt và đường thủy nội địa trong các hành trình trung và dài. Đồng thời, việc hoàn thiện kết nối giữa cảng biển, ga đường sắt và mạng lưới đường bộ được xem là yếu tố then chốt nhằm phân bổ lại lưu lượng, qua đó giảm áp lực lên đường bộ và nâng cao hiệu quả vận hành của toàn hệ thống.
CẦU VẬN TẢI TĂNG, ÁP LỰC CHI PHÍ DẦN HIỆN HỮU
Bên cạnh yếu tố cấu trúc, cầu vận tải tiếp tục được củng cố trong tháng 4, đặc biệt nhờ sự gia tăng của khách quốc tế. Cụ thể, tháng 4 ghi nhận 2,03 triệu lượt khách quốc tế, đưa tổng số bốn tháng lên 8,8 triệu lượt, tăng 14,6% so với cùng kỳ.
Trong đó, khách đến bằng đường bộ tăng mạnh 47,6%, cao hơn đáng kể so với các phương thức khác. Theo nhận định của các chuyên gia, xu hướng này phản ánh sự mở rộng của các luồng di chuyển trong khu vực.
Sự gia tăng của cầu vận tải diễn ra trong bối cảnh bước vào cao điểm du lịch và các dịp lễ, qua đó tiếp tục tạo lực kéo đối với vận tải hành khách trong quý 2/2026. Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, khác với giai đoạn đầu năm, yếu tố chi phí đang bắt đầu tác động rõ hơn đến hoạt động vận tải.
Cụ thể, biến động giá nhiên liệu từ cuối quý 1/2026 được cho là đã làm gia tăng chi phí vận hành, đặc biệt đối với vận tải đường bộ. Điều này khiến khả năng mở rộng sản lượng không còn hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu, mà gắn với khả năng kiểm soát chi phí của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia cho rằng hoạt động vận tải có xu hướng chuyển từ mở rộng quy mô sang điều chỉnh theo hiệu quả. Nguồn cung vận tải theo đó được phân bổ lại, tập trung vào các tuyến có hệ số lấp đầy cao, trong khi các tuyến cận biên có thể bị thu hẹp.
Ở vận tải hàng hóa, theo nhận định của các chuyên gia, sự phân hóa giữa các doanh nghiệp có thể rõ nét hơn, khi nhóm kiểm soát tốt chi phí có lợi thế duy trì hoạt động ổn định. Trong khi đó, ở lĩnh vực hàng không, cao điểm hè được dự báo sẽ kéo cầu tăng, song đi kèm với điều chỉnh tải cung ứng và giá vé theo chi phí.
Diễn biến tháng 4 cho thấy vận tải vẫn duy trì đà tăng trưởng, tuy nhiên cấu trúc phân bổ và áp lực chi phí đang dần trở thành yếu tố định hình lại hoạt động của toàn hệ thống trong giai đoạn tiếp theo.
Tuấn Khang