Theo BS Phạm Mạnh Tuấn - Khoa Hồi sức Truyền nhiễm, Viện Lâm sàng các bệnh Truyền nhiễm, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, virus Nipah (NiV) là bệnh lây truyền từ động vật sang người, có khả năng gây dịch và đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng toàn cầu.
Virus Nipah được phát hiện lần đầu tiên tại Malaysia vào năm 1998. Từ đó đến nay, nhiều đợt bùng phát đã được ghi nhận tại các quốc gia Nam Á và Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Bangladesh, Ấn Độ và Philippines, trong đó Bangladesh và Ấn Độ là những nước ghi nhận tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất.
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2025 đến hết tháng 01/2026, Ấn Độ ghi nhận 2 ca nhiễm virus Nipah tại bang West Bengal. Hiện chưa có bằng chứng cho thấy bệnh lây lan rộng trong cộng đồng hoặc quốc tế.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá nguy cơ bùng phát trên diện rộng là thấp, song vẫn khuyến cáo các quốc gia tăng cường giám sát do đây là bệnh nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao và chưa có vaccine phòng bệnh. Tính đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc virus Nipah.
Dơi ăn quả được coi là vật chủ tự nhiên của nhiều loại virus mà bản thân chúng không biểu hiện bệnh. Ảnh minh họa
Vật chủ tự nhiên của virus Nipah là dơi ăn quả, đặc biệt là các loài thuộc chi Pteropus. Virus được phát tán ra môi trường thông qua các dịch tiết của dơi như nước bọt, nước tiểu, phân.
Từ đó, virus có thể lây sang các động vật khác như lợn, ngựa và sang người khi tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm bệnh, dịch tiết chứa virus hoặc sử dụng thực phẩm bị nhiễm bẩn. Virus xâm nhập vào cơ thể người qua niêm mạc đường hô hấp, tiêu hóa, mũi - họng hoặc qua da bị tổn thương.
Thời gian ủ bệnh của virus Nipah thường từ 3 đến 14 ngày. Bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn, nôn.
Sau đó, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng thần kinh như rối loạn ý thức, co giật, hôn mê; kèm theo các biểu hiện hô hấp như ho, đau họng, khó thở. Đặc biệt, bệnh có thể tiến triển nhanh sang viêm não, viêm phổi nặng, suy hô hấp và dẫn tới tử vong.
Tỷ lệ tử vong do virus Nipah dao động từ 45-70%, cao hơn nhiều so với nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Đáng chú ý, khoảng 20% bệnh nhân sống sót có thể để lại các di chứng thần kinh lâu dài.
Chẩn đoán bệnh do virus Nipah dựa trên yếu tố dịch tễ, biểu hiện lâm sàng và các xét nghiệm xác định mầm bệnh. Trong đó, kỹ thuật PCR thường được sử dụng để phát hiện virus Nipah trong các mẫu bệnh phẩm như dịch mũi họng, máu, nước tiểu, dịch não tủy hoặc mô bệnh học.
Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccine phòng bệnh đối với virus Nipah, việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, chăm sóc hồi sức tích cực, nâng đỡ thể trạng và theo dõi, xử trí kịp thời các biến chứng.
Các chuyên gia khuyến cáo, để phòng bệnh, người dân cần thực hiện ăn chín, uống sôi; tránh tiếp xúc trực tiếp với dơi và các động vật nghi nhiễm bệnh; không sử dụng thực phẩm có nguy cơ bị nhiễm nước tiểu hoặc dịch tiết của dơi.
Nhân viên y tế khi tiếp xúc với các trường hợp nghi ngờ cần được trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân và tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng chống lây nhiễm.
Mạnh Hưng