Vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Đà Nẵng: Nhiều tình tiết pháp lý quan trọng cần phải làm rõ

Vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Đà Nẵng: Nhiều tình tiết pháp lý quan trọng cần phải làm rõ
một giờ trướcBài gốc
Từ giao dịch dân sự đến “vòng xoáy” hình sự
Theo Cáo trạng số 91/VKS-CT-P3 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) TP. Đà Nẵng, bà Trần Thị Hải (trú tại phường An Hải, Đà Nẵng) và bà Lê Thị Nhạn ( trú tại phường Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) quen biết nhau qua kinh doanh bất động sản từ năm 2018. Trong khoảng thời gian từ ngày 17/04/2019 đến ngày 28/07/2020, bà Hải đã nhiều lần cho bà Nhạn vay mượn tiền thông qua chuyển khoản và giao tiền mặt.
Kết quả điều tra xác định, tổng số tiền bà Hải cho Nhạn vay lên tới 101.287.400.000 đồng. Các lần đề nghị và giao dịch, cơ quan điều tra xác định chủ yếu trao đổi qua điện thoại, Messenger và nhận tiền bằng hai hình thức: chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt. Tính đến ngày 28/07/2020, bà Nhạn đã thanh toán cho bà Hải 73.855.850.000 đồng (gồm cả gốc và lãi); số tiền gốc bà Nhạn còn nợ lại là 40.845.000.000 đồng.
Đến ngày 29/08/2020, bà Hải cùng chồng (ông Hoàng Thế Anh) và chị gái (bà Trần Thị Hồng) đến nhà bà Nhạn để chốt công nợ. Tại đây, hai bên đã thống nhất lập 05 giấy mượn tiền (được lùi ngày về các thời điểm vay trong năm 2019 và 2020), xác nhận số nợ gốc 40.845.000.000 đồng. Đây chính là nguồn cơn dẫn đến hàng loạt diễn biến pháp lý phức tạp.
Biểu đồ minh họa dòng tiền trong việc vay mượn của bà Hải và bà Nhạn theo nội dung Cáo trạng số 91/VKS-CT-P3 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
Do bà Nhạn không trả nợ đúng hạn, ngày 26/10/2020, bà Trần Thị Hải đã nộp đơn khởi kiện đến TAND quận Ngũ Hành Sơn (cũ) và được thụ lý vụ án dân sự số 85/2020/TLST-DS về việc "Kiện đòi tài sản". Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, ngày 28/12/2020, TAND quận Ngũ Hành Sơn (cũ) nhận thấy vụ việc có dấu hiệu hình sự nên đã ban hành Công văn số 162/CV-TA chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an.
Ngay sau đó, ngày 06/01/2021, bà Hải chính thức gửi đơn tố cáo bà Lê Thị Nhạn về hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Ở chiều ngược lại, ngày 11/01/2021, bà Nhạn cũng gửi đơn tố cáo vợ chồng bà Hải và bà Hồng về hành vi cưỡng đoạt tài sản (ép ký 05 giấy mượn tiền) và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Tiến trình bắt đầu xảy ra tranh chấp và dẫn đến vụ án hình sự
Cũng theo hồ sơ vụ án, quá trình vay mượn bà Hải, Nhạn xảy ra một biến cố khi dùng nguồn tiền cho Đào Thị Như Lệ (ngụ Đà Nẵng) vay đầu tư bất động sản. Tuy nhiên, sau đó, Lệ kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh khoản nên đã khiến bà Nhạn gặp khó khăn về tài chính. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST ngày 23/01/2024 của TAND quận Sơn Trà (cũ) đã tuyên buộc bà Lệ phải trả cho bà Nhạn 104,1 tỷ đồng. Đến nay, bà Lệ đang chấp hành hình phạt tù trong một vụ án khác nên vẫn chưa trả số tiền trên cho bà Nhạn.
Từ quyết định không khởi tố vụ án rồi lại truy tố hình sự
Sau khi tiếp nhận các đơn tố giác qua lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an TP. Đà Nẵng đã vào cuộc xác minh. Vào ngày 01/12/2021, vụ việc từng bị tạm đình chỉ để chờ kết quả giám định.
Đến đầu năm 2023, vụ án có một bước ngoặt lớn. Ngày 07/04/2023, Phòng Cảnh sát kinh tế (PC03) Công an TP. Đà Nẵng ban hành Báo cáo đề xuất số 862/CSĐT-KT-Đ4, nhận định hành vi của bà Nhạn không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Dựa trên đề xuất này, ngày 10/04/2023, CQCSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã chính thức ban hành Quyết định số 11/QĐ-CSĐT-KT(Đ4), quyết định: không khởi tố vụ án hình sự đối với cả hai nguồn tin tố giác của bà Nhạn và bà Hải với lý do: "Không có sự việc phạm tội và hành vi không cấu thành tội phạm".
Từ trái qua phải (Quyết định số 11/QĐ-CSĐT-KT(Đ4), quyết định: Không khởi tố vụ án hình sự đối với cả hai nguồn tin tố giác của bà Nhạn và bà Hải; Báo cáo đề xuất số 862/CSĐT-KT-Đ4, nhận định hành vi của bà Nhạn không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
Tuy nhiên, đến ngày 31/10/2024, CQCSĐT Công an TP. Đà Nẵng lại ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 152/QĐ-CSKT-Đ3 đối với tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Sau một thời gian tạm đình chỉ và phục hồi điều tra, ngày 06/11/2025, CQCSĐT đã chính thức ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với bà Lê Thị Nhạn.
Quá trình điều tra sau đó, cơ quan điều tra xác định bà Nhạn có thủ đoạn gian dối nhằm từ chối khoản nợ để chiếm đoạt, thể hiện qua việc: xóa tin nhắn, phủ nhận giao dịch tiền mặt, tố cáo ngược bà Hải, đồng thời tẩu tán tài sản bằng cách chuyển nhượng nhà đất cho người thân.
Ngày 03/02/2026, VKSND TP. Đà Nẵng chính thức ban hành Cáo trạng số 91/VKS-CT-P3, truy tố bà Lê Thị Nhạn ra trước TAND TP. Đà Nẵng về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự (khung hình phạt 12-20 năm tù). Đối với tố cáo của bà Nhạn về việc bà Hải cho vay lãi nặng, cơ quan tố tụng kết luận "không có dấu hiệu của tội phạm nên không đề cập xử lý".
Nhiều căn cứ buộc tội cần được làm rõ thêm
Trao đổi với phóng viên, một số luật sư đưa ra nhận định rằng, yếu tố cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" phải chứng minh được ý thức chiếm đoạt của người phạm tội. Nhưng hồ sơ vụ án này cho thấy, bà Nhạn đã trả cho bà Hải hơn 73 tỷ đồng (hơn 73% nợ gốc), có tài sản đảm bảo và nhiều lần yêu cầu đối chiếu công nợ rõ ràng.
Ảnh minh họa (thiết kế bằng AI)
Thêm nữa, nguyên tắc buộc tội “Lạm dụng tín nhiệm” người phạm tội cần thỏa mãn các hành vi như sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại, hoặc có khả năng nhưng cố tình dùng thủ đoạn gian dối để không trả. Tại Bản kết luận điều tra số 21/BKL-VPCQCSĐT của Cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng đã ghi nhận rõ: "Số tiền nhận của Hải, Nhạn sử dụng vào mục đích cá nhân... và sử dụng cho bà Đào Thị Như Lệ vay (tiến hành xác minh thể hiện theo Quyết định thi hành án dân sự số tiền buộc bà Lệ phải trả cho Nhạn là 104.165.000.000 đồng)".
Như vậy, CQĐT đã xác minh dòng tiền bà Nhạn vay của bà Hải không bị cất giấu hay sử dụng bất hợp pháp, mà đã được đưa vào cả giao dịch dân sự khác (cho bà Lệ vay). Do đó, việc cho rằng Nhạn "chiếm đoạt" tài sản, khi chính Nhạn đang là nạn nhân trong vụ án dân sự, mà khoản tiền lớn hơn gấp 2,5 lần nợ gốc là vấn đề cần phải làm rõ.
Ảnh minh họa (thiết kế bằng AI)
Điểm thứ hai cần làm rõ là, trong thời gian diễn ra hoạt động vay mượn tiền giữa bà Hải và bà Nhạn, bà Nhạn có cho bà Đào Thị Như Lệ (ngụ TP. Đà Nẵng, hiện là bị cáo trong vụ án lừa đảo khác) vay số tiền hơn 104,1 tỷ đồng. Bà Lệ sau đó không trả tiền đúng hạn nên bà Nhạn đã khởi kiện dân sự ra TAND quận Sơn Trà (cũ). Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/DSST về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, ngày 23/01/2024 của TAND quận Sơn Trà đã tuyên buộc bà Lệ phải trả cho bà Nhạn 104,1 tỷ đồng. Đến nay, bà Lệ vẫn chưa trả số tiền trên cho bà Nhạn.
Tình tiết này có thể xem là “sự kiện bất khả kháng” khiến bà Nhạn gặp khó khăn tài chính nên khó có thể thực hiện đúng cam kết. Do vậy, cần xem xét, đánh giá, làm rõ các nội dung này để xác định bà Nhạn có hay không ý thức và hành vi chiếm đoạt tài sản; đồng thời cần xác định số tiền này có phải do bà Nhạn chiếm đoạt hay không, hay số tiền này đang nằm trong số tiền hơn 104 tỷ đồng mà bà Lệ còn nợ bà Nhạn?
Ảnh minh họa (thiết kế bằng AI)
Thứ ba, theo kết luận điều tra, số tiền 53 tỷ đồng mà bà Hải khai báo là đưa tiền mặt cho bà Nhạn: “Đối với giao dịch tiền mặt giữa Hải và Nhạn, hiện Hải không có giấy tờ gì để chứng minh các giao dịch này”. Như vậy, ngoài lời khai của bà Hải và nhân viên của bà, hiện vẫn chưa có chứng cứ vật chất xác định thời gian, địa điểm, số lần giao dịch mà bà Hải đã đưa tổng số 53 tỷ đồng tiền mặt cho bà Nhạn như thế nào? Do vậy, nếu chỉ sử dụng lời khai việc giao nhận số tiền này liệu có đảm bảo quy định của tố tụng hình sự?
Bởi theo quy định tại Điều 15 và khoản 1 Điều 85 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc sử dụng lời khai một chiều (trong khi số tiền bà Nhạn sao kê chuyển trả qua ngân hàng còn lớn hơn số tiền bà Hải chuyển cho bà Nhạn) làm chứng cứ buộc tội khi không có chứng cứ vật chất là không đảm bảo tính khách quan theo quy định tại khoản 2 Điều 92 BLTTHS.
Một điểm nữa, là sự thay đổi quan điểm của cùng một Cơ quan điều tra. Ngày 10/04/2023, Phòng Cảnh sát kinh tế (PC03) Công an TP. Đà Nẵng ban hành Quyết định số 11/QĐ-CSĐT-KT(Đ4) không khởi tố vụ án hình sự. Báo cáo đề xuất số 862/CSĐT-KT-Đ4 ngày 07/4/2023 khẳng định: "Sau khi nhận được tài sản, Nhạn không dùng thủ đoạn gian dối, không bỏ trốn, không sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản... hành vi của Nhạn không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Tuy nhiên, sau đó thay đổi quan điểm thành truy tố hình sự với khung hình phạt 12-20 năm tù, mà không xem xét bối cảnh, nguyên nhân mất thanh khoản (do bà Lệ đang nắm giữ khoản tiền hơn 104 tỷ). Trong khi đó, Nghị quyết 68/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đặt ra vấn đề xử lý các quan hệ kinh tế, dân sự với tinh thần: "Trường hợp thực tiễn áp dụng pháp luật có thể dẫn đến xử lý hình sự hoặc không xử lý hình sự thì kiên quyết không áp dụng xử lý hình sự"? Do đó, cần phải làm rõ và đánh giá quan điểm xử lý có mâu thuẫn với tinh thần Nghị quyết 68/NQ-TW hay không?
Từ những nhận định nêu trên, có thể thấy, đây là vụ án phức tạp, có ranh giới rất mong manh, do vậy, để có một phán quyết đảm bảo quy định tố tụng, Hội đồng xét xử sơ thẩm sẽ cần phải xem xét toàn diện, khách quan các chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm sắp tới, đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra công tâm, thượng tôn pháp luật và tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Nhóm PV
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/vu-an-lam-dung-tin-nhiem-chiem-doat-tai-san-tai-da-nang-nhieu-tinh-tiet-phap-ly-quan-trong-can-phai-lam-ro.html