Thu hoạch khoai tây trên cánh đồng liên kết sản xuất ở xã Hoằng Châu. Ảnh: Việt Hương
Xã Ba Đình có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp hàng hóa. Sau sáp nhập, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, địa phương có diện tích tự nhiên trên 27km2, quỹ đất nông nghiệp tương đối lớn, hệ thống kênh mương dài hơn 53km, bảo đảm tưới tiêu chủ động. Diện tích trồng cây hằng năm đạt hơn 2.200ha, trong đó vụ đông là thế mạnh truyền thống. Năm 2025, giá trị sản xuất bình quân trên 1ha trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 104 triệu đồng/ha. Các mô hình điểm được địa phương trực tiếp theo dõi, hỗ trợ và từng bước nhân rộng, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.
Khu vực Đồng Bái là minh chứng rõ nét cho sự thay đổi đó. Trước đây người dân chủ yếu canh tác các loại cây trồng truyền thống như dưa hấu, bí xanh phụ thuộc nhiều vào thị trường tự do, rủi ro cao, giá trị không ổn định. Nhưng vụ đông vừa qua, trên cánh đồng mẫu lớn rộng 65ha, những luống dưa Nhật xuất khẩu được trồng đồng loạt, theo quy trình kỹ thuật thống nhất, đã tạo nên một diện mạo hoàn toàn khác. Chính quyền xã đứng ra vận động tích tụ ruộng đất; doanh nghiệp tham gia từ khâu cung ứng giống, chuyển giao kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm; người nông dân trở thành “công nhân nông nghiệp” ngay trên chính mảnh đất của mình.
Theo ông Mai Văn Xuân, Phó Chủ tịch UBND xã Ba Đình, để triển khai mô hình, địa phương đã tổ chức nhiều cuộc họp, trực tiếp vận động người dân góp đất. Người dân không chỉ hưởng lợi từ giá trị sản xuất, mà còn được trả công lao động khi tham gia các khâu sản xuất. Ước tính, mô hình mang lại thu nhập khoảng 140 triệu đồng/ha - cao hơn đáng kể so với canh tác cây trồng truyền thống.
Không chỉ ở Ba Đình, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị cũng đang phát huy hiệu quả tại nhiều địa phương khác. Tại xã Hoằng Châu, những cánh đồng khoai tây liên kết đã trở nên quen thuộc trong gần một thập kỷ qua. Các hộ góp đất, cho thuê đất và trực tiếp tham gia vào các công đoạn gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây trồng với mức công lao động được trả ổn định/ngày. Người dân yên tâm vì được mùa, ổn định giá; còn đơn vị liên kết có nguồn nông sản chất lượng cung cấp cho các đơn vị chế biến xuất khẩu. Tại cánh đồng này, sản xuất theo hình thức liên kết, cánh đồng lớn, mỗi ha đất trồng cây hàng hóa có thể luân phiên canh tác 3 vụ/năm với các cây trồng hàng hóa phù hợp, giá trị mang lại có thể đạt 120 - 150 triệu đồng/ha/vụ.
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp, những năm qua, việc phát triển trồng trọt theo định hướng rõ ràng, gắn với ứng dụng khoa học - công nghệ, đã tạo ra bước chuyển quan trọng. Giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1ha canh tác năm 2025 đạt 127 triệu đồng, tăng 36,6 triệu đồng so với năm 2020. Đáng chú ý, toàn tỉnh đã chuyển đổi linh hoạt hơn 10.600ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng khác hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản có giá trị cao hơn. Đồng thời, các vùng sản xuất tập trung, vùng cây trồng đặc sản như nếp hạt cau, nếp cái hoa vàng, nếp Cay Nọi... tiếp tục được duy trì và phát triển. Đặc biệt, chính sách tích tụ, tập trung đất đai được triển khai với những giải pháp “đúng và trúng” đã tạo ra “cú hích” quan trọng. Giai đoạn 2021-2025, tỉnh đã hỗ trợ hàng chục tỷ đồng cho các tổ chức, cá nhân thuê, chuyển nhượng đất để phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Nhờ đó, nhiều vùng sản xuất quy mô lớn đã hình thành, như vùng lúa chất lượng cao 75.000ha, vùng mía 15.000ha, vùng cây ăn quả 12.000ha...
Tuy nhiên, dù đạt nhiều kết quả tích cực, song phải nhìn nhận rằng, nông nghiệp vẫn đang đối mặt với không ít thách thức. Quá trình đô thị hóa nhanh, sự phát triển của các khu công nghiệp và hạ tầng khiến diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp. Thiên tai, dịch bệnh có xu hướng diễn biến phức tạp ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư của các doanh nghiệp, HTX và người dân. Các nội dung chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp dù đã có song còn dàn trải, chưa thực sự đủ mạnh, chưa khuyến khích được nhiều doanh nghiệp, người dân đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong khi đó, nếu nông dân sản xuất nông nghiệp thuần túy, lợi nhuận sẽ không cao, thậm chí thu không đủ bù chi phí. Thế nhưng, nghịch lý lại nằm ở chỗ dù hiệu quả sản xuất không cao, nhiều hộ dân vẫn có tâm lý giữ đất.
Ông Nguyễn Quang Khánh, Phó Chủ tịch UBND xã Hoằng Giang nhìn nhận thực tế này tại địa phương: “Hiệu quả về kinh tế trong việc sản xuất nông nghiệp quy mô lớn là rõ rệt. Song, rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ của một bộ phận người dân. Một số hộ dù không còn lao động nông nghiệp, không có nhu cầu sản xuất nhưng vẫn giữ ruộng, không cho thuê, không chuyển nhượng. Điều này khiến việc hình thành các vùng sản xuất tập trung gặp rất nhiều khó khăn”.
Tư tưởng đó dẫn đến hệ quả là ở không ít địa phương, những cánh đồng vốn màu mỡ lại rơi vào tình trạng bỏ hoang, hoặc khai thác kém hiệu quả. Để ruộng đồng trở thành những “bờ xôi ruộng mật”, hướng đi hiệu quả cho nông nghiệp vẫn là khuyến khích tích tụ đất đai, phát triển những cánh đồng mẫu lớn liên kết sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ... Đúng như lời ông Vũ Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh trong bài tham luận tại Hội thảo Xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp và môi trường trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2026-2030: “Đối với một tỉnh có diện tích tự nhiên lớn, dân số đông, không gian sinh thái đa dạng như Thanh Hóa, nếu không có các tổ chức kinh tế tập thể, HTX đủ mạnh để tổ chức nông dân, tích tụ, tập trung đất đai, chuẩn hóa quy trình sản xuất, liên kết thị trường và phân phối giá trị công bằng, thì rất khó hình thành vùng nguyên liệu tập trung, khó thu hút doanh nghiệp đầu tư chiều sâu và càng khó đạt được các mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm phát thải và nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân.
Việt Hương